Tìm Hiểu Sơ Lược Về 9 Điều Y Huấn

Dai Pho

New member
<P> Xin được mạn phép nhắc lại 4 câu Thánh Thi phân quyền cho Tam Phái Thái Thượng Ngọc về Cửu Viện mà Đức Lý Giáo Tông đã từng dạy :</P>
<P><strong><EM><FONT size=3>Thái, Hộ Lương Công, nội chủ trương,<BR>Thượng, Nông Y Học, chấp phương cương.<BR>Ngọc, Hoà Lại Lễ, quyền cai quản,<BR>Cửu Viện phân qua khả khán tường.</FONT></EM></strong></P>
<P><strong><EM>Dịch Nghĩa :</EM></strong></P>
<P><strong><EM><FONT size=3>Phái Thái, 3 viện: Hộ, Lương, Công, chủ trương bên trong,<BR>Phái Thượng, 3 Viện: Học, Y, Nông, nắm giữ giềng mối.<BR>Phái Ngọc, 3 Viện: Hòa, Lại, Lễ, nắm quyền cai quản,<BR>Chín Viện giải qua khá thấy rõ ràng.</FONT></EM></strong></P>
<P><EM><strong> </strong></EM>Vậy nhân trong Cửu Viện có Y Viện , tiểu đệ xin nhân cơn nhàn rỗi trích lục 9 Điều Y Huấn của Đức Tổ Sư Ngành Y Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác đã từng dạy , mời chư huynh tỷ chiêm nghiệm :</P>
<P>                         <SPAN style="FONT-FAMILY: Arial; mso-bidi-font-size: 10.0pt"><B><FONT color=#ff0000><FONT size=6>9 ĐIỀU Y HUẤN CÁCH NGÔN<?:NAMESPACE PREFIX = O /><?:NAMESPACE PREFIX = O /><?:NAMESPACE PREFIX = O /><O:p> </O:p></FONT></FONT></B></SPAN></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><SPAN style="FONT-FAMILY: Arial; mso-bidi-font-size: 10.0pt"><B><FONT color=#0000ff size=2>1- Phàm người học thuốc, tất phải hiểu thấu lý luận đạo Nho, có thông lý luận đạo Nho thì học thuốc mới dễ. Khi có thời giờ nhàn rỗi, nên luôn luôn nghiên cứu các sách thuốc xưa nay. Luôn luôn phát huy biến hóa, thu nhập được vào Tâm, thấy rõ được ở mắt thì tự nhiên ứng vào việc làm mà không phạm sai lầm.<O:p> </O:p></FONT></B></SPAN></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><SPAN style="FONT-FAMILY: Arial; mso-bidi-font-size: 10.0pt"><B><FONT color=#0000ff size=2>2- Được mời đi thăm bệnh : nên tùy bệnh cần kíp hay không mà sắp đặt đi thăm trước hay sau. Chớ nên vì giàu sang hoặc nghèo hèn mà nơi đến trước chỗ tới sau hoặc bốc thuốc lại phân biệt hơn kém khi lòng mình có chỗ không thành thật, thì khó mong thu được kết quả.<O:p> </O:p></FONT></B></SPAN></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><SPAN style="FONT-FAMILY: Arial; mso-bidi-font-size: 10.0pt"><B><FONT color=#0000ff size=2>3- Khi xem bệnh cho phụ nữ, góa phụ, ni cô... cần phải có người nhà bên cạnh mới bước vào phòng để thăm bệnh để tránh hết sự nghi ngờ. Dù cho đến con hát, nhà thổ cũng vậy, phải đứng đắn coi họ như con nhà tử tế, không nên đùa cợt mà mang tiếng bất chính, sẽ bị hậu quả về tà dâm.<O:p> </O:p></FONT></B></SPAN></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><SPAN style="FONT-FAMILY: Arial; mso-bidi-font-size: 10.0pt"><B><FONT color=#0000ff size=2>4- Phàm thầy thuốc nên nghĩ đến việc giúp đỡ người, không nên tự ý cầu vui như mang rượu lên núi, chơi bời ngắm cảnh, vắng nhà chốc lát, lỡ có bệnh cấp cứu làm cho người ta sốt ruột mong chờ, nguy hại đến tính mạng con người. Vậy cần biết nhiệm vụ mình là quan trọng như thế nào"<O:p> </O:p></FONT></B></SPAN></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><SPAN style="FONT-FAMILY: Arial; mso-bidi-font-size: 10.0pt"><B><FONT color=#0000ff size=2>5- Phàm gặp phải chứng bệnh nguy cấp, muốn hết sức mình để cứu chữa, tuy đó là lòng tốt, nhưng phải nói rõ cho gia đình người bệnh biết trước rồi mới cho thuốc. Lại có khi phải cho không cả thuốc, như thế thì người ta sẽ biết cảm phục mình. Nếu không khỏi bệnh cũng không có sự oán trách và tự mình cũng không hổ thẹn.<O:p> </O:p></FONT></B></SPAN></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><SPAN style="FONT-FAMILY: Arial; mso-bidi-font-size: 10.0pt"><B><FONT color=#0000ff size=2>6- Phàm chuẩn bị thuốc thì nên mua giá cao để được loại tốt. Theo sách Lôi Công để bào chế và bảo quản thuốc cho cẩn Thận. Hoặc theo đúng từng phương mà bào chế, hoặc tùy bệnh mà gia giảm. Khi lập ra phương mới, phải phỏng theo ý nghĩa của người xưa, không nên tự lập ra những phương bữa bãi để thử bệnh. Thuốc sắc và thuốc tán nên có đủ. Thuốc hoàn và thuốc đơn nên chế sẳn. Có như thế mới ứng dụng được kịp thời, khi gặp bệnh khỏi phải bó tay.<O:p> </O:p></FONT></B></SPAN></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><SPAN style="FONT-FAMILY: Arial; mso-bidi-font-size: 10.0pt"><B><FONT color=#0000ff size=2>7- Khi gặp bạn đồng nghiệp, cần khiêm tốn, hòa nhã, giữ gìn thái độ kính cẩn, không nên khinh nhờn. Người lớn tuổi hơn mình thì kính trọng; người học giỏi thì coi như bậc thầy, người kiêu ngạo thì mình nhân nhượng; người kém mình thì dìu dắt họ. Giữ được lòng đức hậu như thế, sẽ đem lại nhiều hạnh phúc cho mình.<O:p> </O:p></FONT></B></SPAN></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><SPAN style="FONT-FAMILY: Arial; mso-bidi-font-size: 10.0pt"><B><FONT color=#0000ff size=2>8- Khi đến xem bệnh ở những nhà nghèo túng hoặc những người mồ côi, góa bụa, hiếm hoi, càng nên chăm sóc đặc biệt. Vì những người giàu sang không lo không có người chữa, còn người nghèo hèn thì không đủ sức đón được thầy giỏi, vậy ta để tâm 1 chút họ sẽ được sống 1 đời. Còn như những người con thảo, vợ hiền, nghèo mà mắc bệnh, ngoài việc cho thuốc, lại còn tùy sức mình chu cấp cho họ nữa. Vì có thuốc mà không có ăn thì cũng vẫn đi đến chỗ chết. Cần phải cho họ được sống toàn diện mới đáng gọi là nhân thuật. Còn những kẻ vì chơi bời phóng đãng mà nghèo và mắc bệnh thì không đáng thương tiếc lắm.<O:p> </O:p></FONT></B></SPAN></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><B><SPAN style="FONT-FAMILY: Arial; mso-bidi-font-size: 10.0pt"><FONT color=#0000ff size=2>9-Khi chữa cho ai khỏi bệnh rồi, chớ có mưu cầu quà cáp vì những người nhận của người khác cho thường hay sinh ra nể nang, huống chi đối với những kẻ giàu sang, tính khí bất thường mà mình cầu cạnh, thường hay bị khinh rẻ. Còn việc tâng bốc cho người ta để cầu lợi thường hay sinh chuyện. Cho nên nghề thuốc là thanh cao, ta càng giữ khí tiết cho trong sạch. Tôi xét lời dạy bảo của các bậc tiên hiền về lòng tử tế và đức hàm dục, rèn luyện cho mình rất chặt chẽ và đầy đủ. Đạo làm thuốc là 1 nhân thuật chuyên bảo vệ sinh mạng con người, phải lo cái lo của người và vui cái vui của người, chỉ lấy việc cứu sống mạng người làm nhiệm vụ của mình, không nên cầu lợi, kể công. Tuy không có sự báo ứng ngay nhưng để lại âm đức về sau. Phương ngôn có câu : "Ba đời làm thuốc có đức thì đời sau con cháu tất có người làm nên khanh tướng" đó phải chăng là do có công vun trồng từ trước chăng" Thường thấy người làm thuốc, hoặc nhân bệnh cha mẹ người ta ngặt nghèo hoặc bắt bí người ta lúc đêm tối, trời mưa, có bệnh nguy cấp : bệnh dễ chữa bảo là khó chữa, bệnh khó bảo là không trị được, giở lối quỷ quyệt đó để thỏa mãn yêu cầu, rắp tâm như thế là bất lương. Chữa cho nhà giàu thì tỏ tình sốt sắng, mong được lợi nhiều, chữa cho nhà nghèo thì ra ý lạnh nhạt, sống chết mặc bay. Than ôi! Đem nhân thuật làm chước dối lừa, đem lòng nhân đổi ra lòng mua bán, như thế thì người sống trách móc, người chết oán hờn không thể tha thứ được!".</FONT></SPAN><FONT color=#0000ff size=2><SPAN style="FONT-FAMILY: VNI-Broad; mso-bidi-font-size: 13.5pt"><O:p>   </O:p></SPAN></FONT></B></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><B><FONT color=#0000ff size=2><SPAN style="FONT-FAMILY: VNI-Broad; mso-bidi-font-size: 13.5pt"><O:p>                                              <FONT size=4>   Hải Thượng Lãn Ông </FONT></O:p></SPAN></FONT></B></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><FONT color=#0000ff size=2><SPAN style="FONT-FAMILY: VNI-Broad; mso-bidi-font-size: 13.5pt"><O:p><strong> </strong><FONT color=#000000>Đôi lời trình đăng , mong tránh được sự chê trách , cầu mong được chỉ giáo thêm về Đông Y Học từ quý huynh tỷ , chứ vị cao nhân tiền bối.</FONT></O:p></SPAN></FONT></P>
<P style="TEXT-ALIGN: justify"><FONT size=2><SPAN style="FONT-FAMILY: VNI-Broad; mso-bidi-font-size: 13.5pt"><O:p><FONT color=#000000> Xin kính kiếu ! </FONT></SPAN></FONT></P></O:p>
<P>
<TABLE id=Autonumber11 style="BORDER-COLLAPSE: collapse" cellSpacing=0 cellPadding=5 width="85%"><T><T>
<T>
<TR>
<TD vAlign=top align=right width="20%"><FONT face="Times New Roman" size=3></FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="80%">
<P><FONT face="Times New Roman" size=3></FONT> </P></TD></TR></T></T></T></TABLE></P>   
 

Dai Pho

New member
<P> <FONT color=#0000ff size=3>Kính cùng chư huynh tỷ , đạo đệ xin mạn phép được trích lục Tiểu Sử của Đức Y Tổ Lê Hữu Trác</FONT></P>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff><BR align="justify">            </FONT><FONT color=#0000ff><FONT size=4><strong> <FONT color=#ff0000>Đức Y Tổ  Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác (1720-1791)<BR></FONT></strong><FONT color=#ff0000> <BR></FONT></FONT>Lê Hữu Trác hiệu là Hải Thượng Lãn ông. Sinh ngày 12 tháng 11 năm Canh Tư (11-12-1720) tại thôn Văn Xá, làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, tỉnh Hải Dương. Nay là xã Hoàng Hữu Nam huyện Yên Mỹ, tỉnh Hải Dương. Tuy nhiên, ông sống nhiều (từ năm 26 tuổi đến lúc mất) ở quê mẹ xứ Bầu Thượng, xã Tĩnh </FONT></FONT></P>
<P><FONT color=#0000ff size=3>Diệm, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh, nay là xã Sơn Quang, huyện Hương Sơn và cũng qua đời ở đây vào ngày rằm tháng giêng năm Tân Hợi (1791) thọ 71 tuổi. Mộ ông nay cọ̀n nằm ở Khe nước cạn chân núi Minh Từ thuộc huyện Hương Sơn (cách phố Châu huyện lỵ Hương Sơn 4 cây số).<BR align="justify"></FONT></P>
<P><FONT color=#0000ff size=3>Lê Hữu Trác là con thứ bảy của Lê Hữu Mưu và bà Bùi Thị Thưởng.<BR align="justify"></FONT><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Dọ̀ng họ của ông có truyền thống khoa bảng; ông nội, bác, chú (Lê Hữu Kiều), anh và em họ đều đỗ tiến sĩ và làm quan to. Cha Lê Hữu Trác đỗ đệ tam giáp tiến sĩ làm Thị lang Bộ Công triều Lê Dụ Tông, gia phong chức ngự sử, tước bá, khi mất được truy tặng Thượng thư.<BR align="justify"></FONT></P></FONT>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Năm Kỷ Mùi (1739) Lê Hữu Trác 20 tuổi thấy cha qua đời, ông rời kinh thành về nhà, vừa trông nom gia đình vừa chăm chỉ đèn sách, thi vào tam trường, sau đó không thi nữa.<BR align="justify"></FONT></P></FONT>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Năm 1739 cũng là năm mở ra quy mô lớn của phong trào nông dân nổi dậy chống phong kiến, chỉ một năm sau (1740) nghĩa quân của Hoàng Công Chất đánh sát huyện ông. Chàng thư sinh trẻ tuổi Lê Hữu Trác đang mê mải đèn sách phải lánh đi nơi khác đọc sách. Có người thấy thế đă bảo ông "Binh lửa khắp nơi, con trai thời loạn há chịu già đời ở trong phòng sách mãi sao?" và khuyên ông nên theo nghề vợ. Từ đó ông vừa dùi mài kinh sử vừa nghiên cứu binh thư. Sau nhờ ẩn sĩ họ Vũ ở Đặng Xá dạy vũ thuật âm dương (phép bói toán độn số), ông "nghiên cứu trong vài năm cũng biết được đại khái, mới đeo gươm tọ̀ng quân để thí nghiệm sức học của mì́nh" (Tựa "Tâm lĩnh").<BR align="justify"></FONT></P></FONT>
<P><FONT color=#0000ff size=3>Chiến tranh phong kiến đă gây đau thương chết chóc cho biết bao nhiêu gia đình làng xóm, nó không đem lại gì cho nhân dân, cho đất nước; đã làm cho Lê Hữu Trác chán nản muốn ra khỏi quân đội, nên ông đã nhiều lần từ chối sự đề bạt của tướng nhà Trịnh. Ông nhận ra theo Lê hay Trịnh cũng là chí theo đuổi chiến tranh "cốt nhục tương tàn"; cái chí mạnh "xung Ngưu Đẩu" của ông cũng hóa "ngông cuồng" mà thôi. (Đọc bài thơ trong lời tựa bộ "Tâm lĩnh"). Cho nên năm 1746 khi người anh ở Hương Sơn mất, ông liền viện cớ về nuôi mẹ già, cháu nhỏ thay anh, để xin ra khỏi quân đội, thực sự "bẻ tên cởi giáp" theo đuổi chí hướng mới.<BR align="justify">Lê Hữu Trác bị bệnh từ lúc ở trong quân đội, giải ngũ về phải gánh vác công việc vất vả "trăm việc đổ dồn vào ḿnh, sức ngày một yếu" (Lời tựa "Tâm lĩnh"), lại sớm khuya đèn sách không chịu nghỉ ngơi, sau mắc cảm nặng, chạy chữa tới hai năm mà không khỏi. Sau nhờ lương y Trần Độc, người Nghệ An là bậc lão nho, học rộng biết nhiều nhưng thi không đỗ, trở về học thuốc, nhiệt tình chữa khỏi.<BR align="justify"></FONT></P>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Trong hơn một năm chữa bệnh, nhân khi rảnh rỗi ông đọc sách thuốc "Phùng thị cẩm nang" hiểu được chỗ sâu xa của sách thuốc. Ông Trần Độc thấy lạ, muốn đem hết cái hiểu thấu về y học truyền cho ông. Vốn là người thông minh học rộng, ông mau chóng hiểu sâu y lý, tìm thấy sự say mê ở sách y học, nhận ra nghề y không chỉ lợi ích cho ḿnh mà có thể giúp người đời, nên ông quyết chí học thuốc.<BR align="justify">Ở Hương Sơn, ông làm nhà cạnh rừng đặt tên hiệu Lãn ông (ông lười) ý nói lười biếng, chán ghét công danh, tự giải phóng mình khỏi sự ràng buộc của danh lợi, của quyền thế, tự do nghiên cứu y học, thực hiện chí hướng mà mình yêu thích gắn bó.<BR align="justify"></FONT></FONT></P>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Giữa cảnh thiên nhiên tĩnh mịch của núi rừng Hương Sơn, sớm khuya mê mải đọc các sách thuốc: Y học nhập môn, Cảnh nhạc toàn thư, Nam dược thần hiệu (của Tuệ Tĩnh), Bảo sinh diệu toản yếu... thật là:<BR align="justify"></FONT></FONT></P>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff>           Sá chi vinh nhục việc đời,<BR>             Đem thân đạo nghĩa vào nơi lâm tuyền.<BR align="justify">(Bất can vinh nhục sự Bảo đao nhập cùng lâm. An bần - Y lý thâu nhàn) <BR align="justify"></P></FONT></FONT>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Hải Thượng Lãn ông muốn tì́m thầy, tìm bạn để học thêm nhưng nơi núi rừng hẻo lánh "trên không có thầy giỏi để học, dưới không có bạn hiền giúp, chỉ một mình nói với mình, tự hỏi tự đáp mọ̀ mẫm tưởng tượng đủ thứ" (Lời tựa "Tâm lĩnh") để tìm ra chân lý. Sau ông nhờ một ông lang ở làng bên đi lại thân mật, giúp ông giải đáp những mắc mớ, vài ba năm sau ông đă chữa được một số bệnh thông thường trong gia đình và làng xóm.<BR align="justify"></FONT></P></FONT>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Mùa thu năm Bính Tý (1754) Lê Hữu Trác ra kinh đô mong tìm thầy để học thêm v́ì ông thấy y lý mênh mông nhưng không gặp được thầy giỏi, ông đành bỏ tiền mua một số phương thuốc gia truyền, trở về Hương Sơn "từ khước sự giao du, đóng cửa để đọc sách" (Tựa "Tâm lĩnh"), vừa học tập và chữa bệnh. Mười năm sau tiếng tăm của ông dã nổi ở vùng Hoan Châu (Nghệ An).<BR align="justify"></FONT></P></FONT>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Sau mấy chục năm tận tụy với nghề nghiệp, Hải Thượng Lãn ông dã nghiên cứu rất sâu lý luận Trung y qua các sách kinh điển: Nội kinh, Nam kinh, Thương hàn, Kim quỹ; tìm hiểu nền y học cổ truyền của dân tộc; kết hợp với thực tế chữa bệnh phong phú của mình, ông hệ thống hóa tinh hoa của lý luận Đông y cùng với những sáng tạo đặc biệt qua việc áp dụng lý luận cổ điển vào điều kiện Việt Nam, đúc kết nền y học cổ truyền của dân tộc. Sau hơn chục năm viết nên bộ "Lãn ông tâm lĩnh" gồm 28 tập, 66 quyển bao gồm đủ các mặt về y học: Y đức - Y lý, Y thuật, Dược, Di dưỡng. Phần quan trọng nữa của bộ sách phản ảnh sự nghiệp văn học và tư tưởng của Hải thượng Lãn ông.<BR align="justify"></FONT></P></FONT>
<P><FONT color=#0000ff size=3>Ngày 12 tháng giêng năm Cảnh Hưng 43 (1782) Lãn ông nhận được lệnh chúa triệu về kinh. Lúc này ông đă 62 tuổi, sức cũng yếu lại là người chăm lo chữa bệnh cho trăm họ, nhất là ông đă quyết chí xa lánh công danh, theo đuổi nghiệp y đă mấy chục năm nên ông nhận chiếu chỉ của chúa Trịnh với tâm trạng vừa lo lắng, vừa chán nản; măi sau nghĩ đến bộ "Tâm lĩnh" chưa in được, mà ông "không dám truyền thụ riêng ai, chỉ muốn đem ra công bố cho mọi người cùng biết, nhưng việc th́ì nặng sức lại mỏng, khó mà làm được" (Thượng kinh íy sự), nên ông hy vọng lần đi ra kinh đô có thể thực hiện việc in bộ sách, phần "con cái trong nhà cũng hết sức van nài", ông tạm làm vui từ giă gia đình, học trò rời Hương Sơn lên đường.<BR align="justify">Ra kinh vào phủ chúa xem mạch và kê đơn cho thế tử Trịnh Cán, ông được Trịnh Sâm khen "hiểu sâu y lý" ban thưởng cho ông 20 xuất lính hầu, và bổng lộc ngang với chức quan kiểm soát bộ Hộ để giữ ông lại. Nhưng Lãn ông thấy nếu nhận thưởng chịu ơn thì khó lòng rời kinh đô trở lại Hương Sơn được, nên ông giả ốm không vào chầu, sau lại viện cớ tuổi già mắt hoa, tai điếc thường ốm yếu để được trọ ở ngoài.<BR align="justify"></FONT></P>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff>Bọn ngự y ghen tỵ với Lãn ông không chịu chữa theo đơn của ông, nên thế tử không khỏi, ông biết thế nhưng không hề thắc mắc với bọn thầy thuốc thiếu lương tâm này, mặt nữa ông không thật nhiệt tình chữa, kết quả để sớm thoát khỏi vòng cương tỏa của quyền thần, danh lợi.<BR align="justify"></FONT></P></FONT>
<P><FONT color=#0000ff size=3>Thời gian ở kinh đô, Lãn ông muốn về thăm cố hương Hải Dương của mình, nhưng mãi đến tháng 9 năm 1782, sau chúa Trịnh mới cho phép ông về. Sau hơn 20 năm xa cách, được trở về mảnh đất "chôn nhau cắt rốn".<BR align="justify">Đang sống giữa quê hương, ông lại có lệnh triệu về kinh vì Trịnh Sâm ốm nặng. Nhận được lệnh triệu, ông đành phải rời quê hương.<BR align="justify"></FONT></P>
<P><FONT color=#0000ff size=3>Về kinh ông chữa cho Trịnh Sâm khỏi và cũng miễn cưỡng chữa tiếp cho Trịnh Cán. Trịnh Sâm lại trọng thưởng cho ông. Ông bắt buộc phải nhận nhưng bụng nghĩ: "Mình tuy không phải đã bỏ quên việc ẩn cư, nhưng nay hãy tạm nhận phần thưởng rồi sau vứt đi cũng được" (Thượng kinh kư sự).<BR align="justify">Trịnh Sâm chết vì bệnh lâu ngày sức yếu, Trịnh Cán lên thay, nhưng Trịnh Cán cũng ốm dai dẳng nên "khí lực khô kiệt", khó lòng khỏe được, lại nóng lòng trở về Hương Sơn, Lãn ông đang tìm kế thoái lui, thì may có người tiến cử một lương y mới, ông liền lấy cớ người nhà ốm nặng rời kinh.<BR align="justify"></FONT></P>
<P><FONT color=#0000ff size=3>Hải Thượng Lãn ông trở về Hương Sơn bằng đường thủy, nhưng sợ triều đình bắt trở lại ông phao tin đi đường bộ. Thoát khỏi kinh đô ông sung sướng như "chim sổ lồng, cá thoát lưới", lòng chỉ muốn "bay nhanh" về quê nhà:<BR align="justify"></FONT></P>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff> Lên đường từ giã long lâu<BR>Gươm đàn nửa gánh ra ngay đô thành,<BR>Ngựa quen đường cũ về nhanh,<BR>Quay thuyền khó lúc lênh đênh giữa dòng.<BR>Mây qua đường để bớt nồng<BR>Núi non mở mặt như lòng với ai<BR>Xanh xanh một dải non đoài<BR>Giống non ta cũ chỉ vài ḥàng thôi.(Thượng kinh kư sự). <BR align="justify"></FONT></P></FONT>
<P><FONT color=#0000ff size=3>Ngày 2 tháng 11 (năm 1782) Lãn ông về đến Hương Sơn.<BR align="justify">Gần một năm sống giữa kinh đô phong kiến biết bao công danh phú quý lôi kéo, nhưng ông "thung dung" ra đi lại "ngất ngưởng" trở về, lòng trong không hề đục, chí lớn không hề sờn.<BR align="justify"></FONT></P>
<P><FONT color=#0000ff size=3>Năm 1783 ông viết xong tập "Thượng kinh ký sự" ghi lại tỉ mỉ chuyến đi kinh, tập ký ấy là một tác phẩm văn học vô cùng quý giá. Mặc dầu tuổi già, công việc lại nhiều: chữa bệnh, dạy học, nhưng ông vẫn tiếp tục chỉnh lý, bổ sung, viết thêm (tập Vân khi bí điển, năm 1786) để hoàn chỉnh bộ "Tâm lĩnh". Hải Thượng Lãn ông Lê Hữu Trác không chỉ là danh y có cống hiến to lớn cho nền y học dân tộc, ông còn là một nhà văn, nhà thơ, nhà tư tưởng lớn của thời đại. </FONT></P>
<P><FONT color=#0000ff size=3>  ( Trích Tiểu Sử Đức Y Tổ )</FONT></P>
<P><FONT color=#0000ff size=3> Đôi lời trình đăng xin kính kiếu ! </FONT></P> 
 

Facebook Comment

Top