Tìm hiểu về Đ.Đ.T.K.P.Đ

dong tam

New member
TÌM HIỂU Ý NGHĨA LỜI DẠY
NGƯNG HẾT CƠ BÚT TRUYỀN ĐẠO


Thánh Ngôn Hiệp Tuyển quyển thứ nhứt có bài Thánh Ngôn áp cuối, đàn ngày mùng 2 tháng 5 năm Đinh Mão 1927:
Còn cuối kỳ tháng sáu đây thì Thầy phải ngưng hết cơ bút truyền Đạo. Các con sẽ lấy hết chí thành đã hun đúc bấy lâu mà lần hồi lập cho hoàn toàn mối Đạo.

Nầy là mấy lời đinh ninh sau rốt khá lưu tâm
.”
[Thánh Ngôn Hiệp Tuyển 1 xb 1928 tr84, đàn ở Phước Thọ 01 juin 1927]

Lời Thánh ngôn này của Đức Chí Tôn, về sau đã trở thành đề tài có nhiều ý kiến khác biệt nhau ngay trong nội bộ nhà Đạo Cao Đài! Sự khác biệt ý kiến này thậm chí đã dẫn đến quan điểm và thái độ cực đoan: không chấp nhận sử dụng quyển Thánh Ngôn Hiệp Tuyển thứ hai! Đi tìm ý nghĩa thật sự của đoạn Thánh Ngôn này để giải tỏa thành kiến là điều thật sự cần thiết biết bao!

“Phân tích cụ thể một tình hình cụ thể” là thái độ khách quan khoa học để có thể hiểu đúng bản chất của sự việc. Từ đó, những quyết định xử lý mới hy vọng có được sự chính xác và hiệu quả.
 

dong tam

New member
1. Trước tiên chúng ta hãy đọc Lời Tựa đã được chư vị Tiền Khai viết ngay từ khi phát hành Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Bổn Thứ Nhứt từ năm 1928:

“... Nay Hội Thánh nhơn công trích lục những Thánh Ngôn giáng cơ dạy Đạo, in làm hai bổn để truyền bá cho mọi người thông hiểu …”

Như thế ngay từ đầu, chư vị tiền bối đã có kế hoạch thực hiện hai bổn Thánh Ngôn. Nhưng do những biến động đạo đời nên mãi đến giữa thập niên 60, sau gần bốn mươi năm, quyển Thánh Ngôn bổn thứ hai mới được ra mắt!

2. Thật may mắn, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển bổn thứ hai có đăng lại đàn dạy “ngưng hết cơ bút truyền Đạo” nhưng có bổ sung 2 chi tiết: một dòng ở đầu bài “đàn tại Phước Thọ” và một câu ở cuối bài:

“… Ấy là điều quý báu đó. Thầy cho con tự định thâu sớ mà cho nhập môn như các chỗ khác.”

Lời Thánh Ngôn “tự định thâu sớ mà cho nhập môn” giúp cho chúng ta hiểu đối tượng của vấn đề ngưng cơ bút truyền đạo có liên quan chặt chẽ đến việc cho phép nhập môn với những người cầu đạo.

Bối cảnh ban đầu của Cao Đài giáo khi xưa là hình thức thâu nhận tín đồ qua cơ bút. Người xin phải có phê chuẩn chấp thuận của Đức Chí Tôn và sau “Lễ Thánh Thất” vào Rằm tháng 10 Bính Dần, Cao Đài giáo chánh thức ra mắt nhân sanh, Đức Lý Giáo Tông cũng có quyền pháp này.

3. Căn cứ theo thời điểm hiệu lực của lời Thánh Ngôn “Còn cuối kỳ tháng sáu đây thì Thầy phải ngưng hết cơ bút truyền Đạo” chúng ta hãy tìm: có hay không các Thánh Ngôn vào cuối tháng 6 Đinh Mão và ngay sau đó. Cho đến nay chúng ta vẫn chưa tìm được các đàn trong tháng 6 nhưng lại tìm được đàn vào ngày đầu tháng 7 Đinh Mão. Hôm đó Đức Chí Tôn giáng đàn ở làng Long Thành – Tòa Thánh Tây Ninh:

Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương.

Các con, Thầy thâu nhập môn đệ, cho Thánh bút kỳ nầy là chót. Định ngưng cơ phổ độ, từ đây do theo Tân Luật mà hành đạo và thâu nhập chúng sanh.

Nhưng nếu có chuyện bí yếu chi về nền Đạo và về đường trách nhậm của các con thì Thầy sẽ lấy từ bi mà khuyến dạy. (…)

- Thiên phong nơi Sađéc, Thầy sẽ dạy anh Trung con. Còn chư môn đệ muốn cầu Chức sắc, con đọc.
- Tạ: Phái Thái. Cao Sơn Tiên, nay phong Giáo Hữu.

Trang bạch: - Chư Nữ tín đồ chưa nhập tịch Thánh.
- Thầy lấy từ bi cho chức Lễ Sanh cả thảy, phải gắng cho xong phận sự, bằng không thì tội sẽ định bằng hai cho những kẻ không trọn lòng thành kỉnh về đạo đức nghe.

Trang bạch: . . . . . . . . . . . . .
- Giáo Hữu cho chư môn đệ, trừ ra Nhâm và Kiệm. Thị Lợi cũng Giáo Hữu.

Trang bạch: . . . . . . . . .
- Được con, Thầy cho thượng sớ.

Trang, Thầy thâu nhập hết chư nhu. Con giải sơ cách hành Đạo và ái kỉnh cho cả thảy biết.
Thầy ban ơn cho các con. Thầy thăng
.” [Thánh Ngôn chép tay, Hương Hiếu trang 186 - 187]

Qua nội dung của đàn này cho chúng ta thấy hôm đó là lần cuối cùng Đức Chí Tôn ban ân trực tiếp thâu nhận người xin nhập môn và ban phong chức sắc. Thầy dặn dò từ nay cứ “do theo Tân Luật mà hành đạo và thâu nhập chúng sanh”.
 

dong tam

New member
4. Thời Hạn và Nội Dung Ý Nghĩa

Chúng ta hãy tìm hiểu thời hạn thực hiện “cơ bút truyền Đạo” theo Thánh ý của Thầy.

4.1. Về việc thâu nhận người xin nhập môn

Tình hình thâu nhập môn đệ sau một tháng Đại Lễ Khai Minh Đại Đạo rất khả quan. Vào cuối tháng 11 Bính Dần, một hôm, Thầy cho biết số lượng tín đồ được thâu qua cơ bút sắp “gần đủ số”
Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài giáo đạo Nam phương. (Chúng sanh xin cầu Đạo)

(…) Vậy các con muốn cho chúng sanh cầu Đạo thì Thầy cho phép, song từ đây phải làm sớ như Minh Thệ mà xin nhập môn đặng có thế phổ độ cứu vớt chúng sanh thêm một chút ít nữa. Thầy cho các con hay trước rằng: Đại Đạo tại Nam Kỳ gần đủ số rồi, hễ đủ số rồi thì phải bế lại mà hành Đạo. Còn một phần thì đi ngoại quốc phổ thông nền Chánh đạo.

Thầy toàn thâu cả chúng sanh nam nữ
.”

Lời Thánh Ngôn cho thấy ban đầu những người đến hầu đàn được Đức Chí Tôn điểm danh và thâu nhận. Sau đó số người đến hầu trong mỗi đàn “truyền Đạo” càng lúc càng đông, để tập cho các môn đệ bài học về trật tự nghi lễ đối với các đấng Thiêng Liêng nên từ cuối tháng 11 Bính Dần Thầy dạy bắt đầu từ đây bộ phận nghi lễ phải sắp đặt trước cho có trật tự, làm hai bảng danh sách những người xin nhập môn, nam nữ riêng biệt. Khi có lệnh dạy thượng sớ, vị chứng đàn dâng danh sách đã chuẩn bị lên cho Ơn Trên xem xét.

Khi đó, việc nhập môn cầu đạo trở thành một hiện tượng xã hội. Hàng vạn quần chúng rần rộ đi dự lễ hội ở Gò Kén và xin cầu Đạo trong thời gian 3 tháng Khai Minh Đại Đạo như lời Thầy đã dạy khi chuẩn bị cho việc tổ chức Lễ Thánh Thất. Sau đó, ở các đàn phổ độ ở nhiều tỉnh Nam kỳ được tiếp tục thực hiện. Đi hầu đàn, cầu xin nhập môn để được điểm danh đã trở thành phong trào trong đời sống xã hội. Vì thế có một số người a dua, chạy theo chứ chưa phải thật tâm cầu đạo, cho nên đã có lần vào đầu trung tuần tháng chạp Bính Dần, Đức Lý Giáo Tông răn đe:

Như Lão chẳng vì lời Thầy dặn bảo thì đã cấm Cơ Bút rồi. Vậy Đạo chưa thành, Lão kỳ tới cuối tháng 6 năm tới thì cấm tuyệt Cơ Bút.”

Sang cuối tháng giêng Đinh Mão 1927, Tân Luật đã được chư Tiền Khai hoàn tất dâng trình lên Đức Lý Giáo Tông và Đức Chí Tôn. Đức Giáo Tông có dạy:

Đại Đạo ngày nay, Luật đã hoàn toàn, đáng lẽ Lão xin phép Đức Từ Bi chiếu theo đặng thâu nhập môn đệ, cấm Cơ Bút thâu nhận sanh linh, nhưng số người hữu căn chưa đủ, nên phải đợi cho hiệp theo Thiên thơ.

Chừng đặng đủ số định cho kẻ hữu phần thì ngày ấy chẳng còn lo chi việc phổ độ nữa
.”

Qua những Thánh Ngôn của Thầy và Đức Lý, cho thấy thời hạn của “Cơ bút thâu nhận sanh linh … theo Thiên thơ ” đã nhiều lần sớm được nhắc đến ngay trong khi đại lễ Khai Minh Đại Đạo đang diễn ra.

Sau đại lễ ấy, Thầy tập dần cho chư vị Chức sắc thực hành nghi thức nhập môn và thủ tục hành chánh đạo.

Vậy, lúc nầy, những môn đệ mới phải lập thệ giữa Thầy mà nhập Đạo. Còn cơ bút, dịp nào Thầy truyền lịnh sẽ thi hành. Mỗi lần ai đến cầu Đạo, phải giao lý lịch cho chủ đàn, rồi phải chạy khai về Tòa Thánh.

Bản, con hiểu không? Cứ lập đàn cúng, không cơ bút chi. Thầy đã hối các con ban hành Tân Luật đặng cho dễ.
Như ngày nay về sau không cơ bút thì cứ theo Luật mà hành sự cho đến ngày Thầy định đoạt sẽ hay
.”
(TNCT.BP.12-13)
 

dong tam

New member
4.2. Về việc Thiên phong Chức Sắc

Một nội dung thứ hai của “cơ bút truyền Đạo” cũng được đề cập Thầy đến là việc Thiên phong Chức sắc. Lúc vừa Lập Đạo cho đến sau Khai Minh Đại Đạo, từng Chức sắc đều được Đức Chí Tôn trực tiếp ban phong. Vì thế chúng ta thấy cụm từ “Thiên phong” thường được gắn liền với cụm từ Chức sắc.

Sau đàn mùng 1 tháng 7 Đinh Mão, chúng ta có tìm được một đàn với nội dung dạy về việc phong tịch cho chư Chức sắc. Như chúng ta đã biết, ngọai trừ Chức sắc nữ phái chỉ có chữ Hương trong tên đạo, còn với nam phái từ phẩm Lễ Sanh trở lên được phân vào ba phái Thái, Thượng, Ngọc.

Theo lời dạy của Thầy kể từ sau giữa tháng 7 Đinh Mão trở đi việc cầu phong Chức sắc và phong tịch đều phải qua thủ tục công cử đã được qui định trong Tân Luật.

Trung, Thơ, Lâm Thị Ái Nữ, ba con.
Thầy vì lòng từ bi hay thương môn đệ, phong tịch lần nầy là chót vì Tân Luật đã hoàn toàn. Nếu chẳng do theo đó thì Lý Bạch hằng kêu nài; Quan Thánh và Quan Âm cũng hiệp sức mà dâng kêu về sự ấy. Vậy sau nầy nếu có ai đáng thì do Tân Luật mà công cử.

Còn về phong tịch thì có Lý Giáo Tông tiến cử, Thầy mới nhậm phong nghe
.”
[Thánh Ngôn Chép tay – Thái Thơ Thanh, tờ 339B, Thánh thất Thủ Đức ngày 21.7 Đinh Mão (18.8.1927)]

Chúng ta dễ dàng tìm thấy những thí dụ về việc cầu phong và phong tịch về sau này.

Thí dụ 1: đàn cầu phong tại Đền Thánh Tòa Thánh Tây Ninh đêm 17.10 Đinh Dậu (1957)

Hiền hữu Bảo Thế đọc danh sách cầu phong Sĩ Tải.

1. Trần Văn Ngôn, chấm phong Sĩ Tải.
2. Nguyễn Văn Còn, sắc phong Lễ Sanh phái Thái, sẽ giúp đắc lực cho Cửu Trùng Đài.
3. Trần Thanh Danh, chấm phong Sĩ Tải.
4. Nguyễn Thành Tám, sắc phong Lễ Sanh phái Thượng.
5. Trương Ngọc Anh, chấm phong Sĩ Tải.
6. Trần Minh Hiếu, sắc phong Lễ Sanh phái Ngọc.
7. Nguyễn Văn Như, chấm phong Sĩ Tải.
8. Lê Minh Khuyên, chấm phong Sĩ Tải.

Hiền muội Hương Hiếu:
Đọc danh sách cầu phong Lễ Sanh: (…)
Đọc danh sách cầu phong Giáo Sư: (…)
 

dong tam

New member
4.3. Với những vị có quan điểm căn cứ vào Thánh Ngôn, Thầy đã ngưng cơ bút phổ độ từ giữa năm Đinh Mão – 1927, xin được gợi ý vài điều cần suy nghĩ thêm:

- Qua nội dung đàn vừa trích dẫn và đàn ngày mùng 6 tháng 11 Đinh Mão, Thầy trách:

Trước khi ngưng cơ, Thầy đã cho lịnh dùng Cơ Bút thể nào? Thầy tưởng mỗi Thiên Phong đều đặng Thánh ngôn của con đã ban hành.” [Đức Chí Tôn, đàn Chợ Lớn, 29.11.1927 (âl. 06.11 Ðinh Mão)]

Như thế sau việc ngưng cơ bút thâu nhận sanh linh vẫn còn có lập đàn khi hết sức cần như lời Thầy đã dặn ngay trong đàn ngày mùng 1 tháng 7 Đinh Mão:

Nhưng nếu có chuyện bí yếu chi về nền Đạo và về đường trách nhậm của các con thì Thầy sẽ lấy từ bi mà khuyến dạy

Nếu không có các đàn sau ngày mùng 1 tháng 7 Đinh Mão thì một số điều đã được ghi trong luật lệ Đại Đạo đã không thể có! Như phần tổ chức Cửu Trùng Đài ở hai bậc cuối là Chức Việc và tín đồ đã được Đức Lý Giáo Tông bổ sung qua Đạo Nghị Định ban hành trong năm 1930 hay luật về Thập Hình, v.v…

- Hay Tân Kinh Tận Độ vong linh gồm những bài kinh Cúng Cửu, Tiểu và Đại Tường, mãi đến giữa năm 1935 mới được Ơn Trên ban cho và được ban hành kèm theo nghi thức ghi trong bộ luật Mậu Dần 1938.

Nếu đã hoàn toàn ngưng cơ thì làm sao có được những bài kinh này cùng nghi thức tương ứng! Trong thực tế sau đó hầu như các Hội Thánh Cao Đài đều áp dụng nghi thức Tân Kinh tận độ này.

- Một điều cực kỳ quan trọng khác, Cao Đài luôn thể hiện lý âm dương, cơ bút đã lưu truyền giáo pháp phổ độ qua Thánh Ngôn Hiệp Tuyển thì đồng thời cũng lưu truyền giáo pháp tuyển độ qua Đại Thừa Chơn Giáo (1936). Nếu thật sự đã hoàn toàn ngưng cơ từ cuối kỳ tháng sáu Đinh Mão thì cái thâm sâu vi diệu nhất của Cao Đài giáo đã không thể có và lưu truyền.
 

dong tam

New member
KẾT LUẬN:

- Tóm lại, qua những Thánh Ngôn ngày nay chúng ta tìm được đã giúp đạo hữu hiểu chính xác hơn ý nghĩa của việc “Ngưng hết cơ bút truyền đạo” là gì. Đó là một giai đoạn đặc biệt của thời kỳ Khai Đạo, qua cơ bút trong các buổi đàn cơ Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo Tông “thâu nhập môn đệ” và “Thiên phong Chức sắc”.

Ngay từ cuối năm Bính Dần, Đức Chí Tôn và Đức Lý Giáo Tông đã báo trước kỳ hạn sẽ “cấm tuyệt” việc thực hiện cơ bút thâu nhận sanh linh.

- Kể từ tháng 7 Đinh Mão, các Chức sắc khi hành chánh đạo phải cố gắng làm theo Tân Luật đã vừa được ban hành ngày 01.6.1927. Việc thâu nhận người xin nhập môn và việc cầu thăng phong chức sắc, phong tịch Đạo đều phải áp dụng theo Tân Luật. Từ đây, Đức Lý Giáo Tông chỉ chấm duyệt danh sách cầu phong hay cầu thăng được Hiệp Thiên Đài dâng trình đúng theo thủ tục Tân Luật đã định.

- Nếu cơ bút đã thật sự phải ngưng vào thời điểm đó thì cơ cấu tổ chức và giá trị tận độ của Cao Đài giáo không được trọn vẹn như thực tế hiện nay vì:

. 1930: Sáu Đạo Nghị Định đầu tiên xác định bộ khung hoàn thiện của cơ cấu tổ chức qua Pháp Chánh Truyền hoàn chỉnh và bộ máy tổ chức Cửu Viện.(trách nhiệm hành chánh nam, nữ phân định rạch ròi).
. 1935: Tân kinh siêu độ (Cửu cửu, Tiểu tường, Đại tường) mới được ân ban cho sanh chúng.
. 1936: Kinh Đại Thừa Chơn Giáo mới ra đời.

Trong 12 năm đầu tiên, nếu không còn cơ bút thì Cao Đài chỉ là một tôn giáo khập khiểng về nội dung (Giáo pháp, Giáo luật) và cơ cấu tổ chức (Giáo hội).

Nếu không có cơ bút hướng dẫn, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ không thể chỉ trong một thời gian ngắn đã phát triển thành một tôn giáo có chiều sâu tâm linh vi diệu, có sự tăng trưởng vượt bực trên đường phổ độ chúng sanh, đóng góp cho đời một hệ tư tưởng Đại đồng Nhân bản hoàn toàn mới lạ không thể lẫn lộn với các hệ tư tưởng Đông Tây dầu xa xưa hay hiện đại!

Yếu tố Đại Đạo là tư tưởng có tính chất độc đáo mới lạ hoàn toàn có khả năng dẫn dắt và lèo lái thời đại theo định hướng tìm lại được sự cân bằng giữa hai nhu cầu phát triển văn minh khoa học cực kỳ diệu ảo song hành cùng nếp sống văn minh đạo đức lấy Nhân Bản làm chủ đích.

Một nước nhỏ nhoi trong vạn quốc,
Ngày sau làm chủ mới lạ kỳ
.”
 

dong tam

New member
THÁNH GIÁO THAM KHẢO
Thánh Ngôn Sưu Tập IV – Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng; bài số 13

1. Đền Thánh, đêm 24.2 Mậu Tuất (dl 12.4.1958)

Phò loan: Thượng Sanh - Bảo Pháp. Lúc 20 giờ.
Hầu bút: Sĩ Tải Hiểu.
Hầu đàn: Chức sắc Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài và Phước Thiện nam nữ.

LÝ BẠCH Nhứt Trấn Oai Nghiêm

Chào chư Chức sắc, chư Chức việc nam nữ.

Hiền hữu Khai Đạo đọc danh sách cầu thăng Giáo Hữu.

- Ông Khai Đạo đọc danh sách:
* Lễ Sanh cầu thăng Giáo Hữu.
* Giáo Hữu cầu thăng Giáo Sư.
Tiếp tới:
* Giáo Sư cầu thăng Phối Sư.

Lão xin nhắc chư hiền hữu biết Chức sắc mặc dầu quá lục tuần mà còn sức khỏe đảm nhận nhiệm vụ của Đạo, tới kỳ cầu phong hay cầu thăng cũng là ân phong.

Hàm phong là khi nào đương hành sự mà xin nghỉ việc vì thiếu sức khỏe hoặc trong hạng hàm phong mà có công cán đặc biệt đủ thâm niên, xin cầu lên đẳng cấp cao hơn mà cũng hàm phong.

Vậy sau phải sửa đổi danh từ lại.

Đọc.

Ông Khai Đạo đọc tiếp danh sách:
* Chức việc cầu thăng Lễ Sanh Hàm.
* Lễ Sanh Hàm cầu thăng Giáo Hữu Hàm.
* Lễ Sanh cầu thăng Giáo Hữu Hàm.
* Giáo Hữu cầu thăng Giáo Sư Hàm.
* Giáo Sư cầu thăng Phối Sư Hàm.

Kêu hiền muội Hương Hiếu vào đọc danh sách phái nữ còn sót lại.

Bà Chánh Phối Sư Hương Hiếu đọc danh sách:
* Chức việc cầu thăng Lễ Sanh Hàm.
* Chức việc cầu ân phong Lễ Sanh.

Lão cho Chức sắc Hiệp Thiên và Cửu Trùng biết kỳ nầy Đức Chí Tôn rộng lượng châm chế về việc ban thưởng, nên có nhiều vị không thật xứng đáng.

Kỳ sau Lão xin hai Đài phải tuyển lọc sự thăng thưởng cho minh chánh và áp dụng luật Đạo cho đẳng đẳng theo lời Lão đã dạy nghe.

Lão ban ơn cho toàn đạo nam nữ. Thăng
 

dong tam

New member
LỊCH SỬ HÌNH THÀNH PHÁP CHÁNH TRUYỀN và TÂN LUẬT

Hiện nay, phần đông tín hữu Cao Đài thường nói “Tân Luật - Pháp Chánh Truyền”! Trong thực tế chúng ta cũng thấy sách đạo với tựa đề rõ cũng như thế!

Nhưng với những ai có hiểu biết sơ qua về thời kỳ Khai Minh Đại Đạo đều biết là chư vị Tiền bối thời Khai Đạo đã soạn nên Tân Luật căn cứ vào Pháp Chánh Truyền đã được Đức Chí Tôn ban cho. Thật ra theo diễn tiến lịch sử, Pháp Chánh Truyền vừa nhận được khi đó vẫn chưa phải là văn bản luật hoàn chỉnh.

Tuy được học vài lần về mảng đề tài này nhưng bản thân chúng tôi cũng đã từng có những hiểu biết chưa đúng về nhiều điểm liên quan! Vì thật ra trong quá trình được tiếp nhận thông tin hầu như các giảng viên chỉ đặt nặng, chú trọng về nội dung nhiều hơn về lịch sử.

Thiển nghĩ qua kinh nghiệm sai lầm của bản thân, cũng còn nhiều đạo hữu chúng ta cũng ở hoàn cảnh tương tợ nên chúng tôi xin được góp phần tìm hiểu thêm khía cạnh lịch sử của vấn đề này.

Để hiểu đúng những nét chánh yếu của Pháp Chánh Truyền và Tân Luật cùng mối liên quan giữa hai văn bản luật căn bản này của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, chúng ta cần tìm hiểu quá trình hình thành của hai văn bản này theo diễn tiến của lịch sử nhà Đạo
 
Sửa lần cuối:

dong tam

New member
I. PHÁP CHÁNH TRUYỀN:

- Được đọc Thánh Ngôn chép tay của chư vị Tiền Khai, đúng là danh từ Tân Luật đã sớm hiện diện trước khi có danh từ Pháp Chánh Truyền.

Ngay từ khi phong cho hòa thượng Như Nhãn là “Quản Pháp Thiền Sư Thích Đạo Chuyển Luật Lịnh Diêu Đạo Sĩ” Đức Chí Tôn đã nói đến phần nhiệm vụ soạn Tân Luật.

Con phải biết, Thầy ngày nay trông công con mà lập thành Tân Luật Thích giáo. Con phải đại tịnh kể từ tháng 9 cho tới Rằm tháng 10, Thầy không muốn cho con lo lắng điều gì khác hơn là xét xem kinh điển lại.(…).

Con phải xem xét hết lại mà lập Tân Luật.(…)

Rằm tháng 10 nầy, Thầy xin con hội cả chư Hòa Thượng tại Thánh Thất đây chung lo lập Tân Luật
.”

Qua Thánh Ngôn, chúng ta thấy danh từ Tân Luật bắt đầu xuất hiện trong đàn cơ ngày cuối tháng 7 Bính Dần. Còn với danh từ Pháp Chánh Truyền bắt đầu được nói đến từ khi nào?

- Lúc ban đầu trong đàn ngày 12.10 Bính Dần, tên gọi được Đức Chí Tôn dùng là Phật Truyền Chánh Pháp. Đêm sau Thầy mới đổi lại là Pháp Chánh Truyền.

Vào lập vị hành Ðại Lễ như buổi Vĩnh Nguyên Tự nghe Lịch à ... là đã hết một đêm đầu rồi.

Kế đêm sau, thì là đêm Thiên Phong cho cả chư Môn đệ và là đêm các con phải thành tâm trai giới cho Thầy lập Pháp Chánh Truyền
.”

Như vậy, danh từ Pháp Chánh Truyền xuất hiện sau danh từ Tân Luật khoảng 2 tháng rưỡi.

Khi đọc văn bản Pháp Chánh Truyền, nhiều người như chúng tôi đã từng lầm tưởng, đêm Rằm rạng 16 lịch sử ấy toàn bộ Pháp Chánh Truyền gồm cả hai phần Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài đã được Thầy ban. Thật ra không phải thế!
 

Trung ngôn

Active member
Kính Huynh dongtam,
Cám ơn Huynh đã chuyển tải thông tin một cách khoa học và bổ ích nhằm "sửa lại những gì đã trật' trong sự hiểu biết vừa qua của Trung ngôn.
Xin Huynh sao chụp những tư liệu quý giá làm cơ sở khoa học cho nhận luận trên để Trung ngôn tiện theo dõi.
Chân thành cám ơn.
 

dong tam

New member
1. Pháp Chánh Truyền.

Có đọc kỹ Thánh Ngôn Hiệp Tuyển hầu như mọi người đều biết Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nam phái đã được Thầy ban cho trước tiên, gần ba tháng sau phần Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nữ phái mới được Đức Lý Giáo Tông ban tiếp. Nhưng theo diễn tiến lịch sử, thật ra lúc khởi đầu chưa hề có danh từ Cửu Trùng Đài, Đức Chí Tôn chỉ mới dạy “Lập Pháp” về tổ chức điều hành chung cho cả nam và nữ.

a. Trong đêm thứ hai của đại lễ, Rằm rạng 16 tháng 10 Bính Dần, Thầy giáng đàn chỉ mới ban Pháp Chánh Truyền từ phẩm Giáo Tông cho đến Lễ Sanh. (gồm 7 bậc).

Chư Minh Lý có mặt ha. Thầy mầng các con.
Chư môn đệ nghe Thầy lập pháp:
Giáo Tông nghĩa là anh cả các con
,...” [Thánh Ngôn Chép tay – Chơn Truyền Bí Yếu – Thái Thơ Thanh tờ 179b]

Khởi đầu ở thời điểm ấy, theo truyền thống của các cựu giáo, các chức phẩm đều giao hết cho bên nam phái chịu trách nhiệm. Chưa có phân biệt rạch ròi phần trách nhiệm của nam và nữ trong nền tổ chức Đại Đạo.

b. Qua đêm thứ ba, Thầy ban tiếp Pháp Chánh Truyền phần Công Cử Chức Sắc.

c. Vào trung tuần tháng giêng Đinh Mão 1927, khi quá trình bàn thảo trình dâng Tân Luật lên Đức Lý Giáo Tông bước vào giai đoạn cuối, ngày 11 tháng giêng Đức Lý Giáo Tông mới dạy thêm về phần tổ chức cho phái nữ.

Thái Bạch...
Hội Thánh nghe Lão ban sắc phục cho nữ phái nghe và từ đây xem sắc phục ấy mà hành lễ theo đẳng cấp.
Nữ phái phải tùng Đầu Sư nữ phái, song tùng quyền của Giáo Tông và Chưởng Pháp (...)
Lâm Hương Thanh hiền muội phải viết thơ mời đủ mặt ngày rằm nầy, Thầy đến phong chức lập thành nữ phái nghe em
.” [Thánh Ngôn Chép tay – Chơn Truyền Bí Yếu – Thái Thơ Thanh tờ 402b]

d. Danh từ Cửu Trùng Đài bắt đầu xuất hiện từ thời điểm nào trong Thánh Ngôn, đây là việc cần tiếp tục tìm kiếm!

Vì các chức phẩm được Đức Chí Tôn qui định lúc đầu chỉ có 7 bậc từ Giáo Tông cho đến Lễ Sanh mà thôi. Phải đến năm năm sau, mới có bổ sung thêm cấp Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự và Thông Sự trong Đạo Nghị Thứ Ba được ban hành vào đầu tháng 10 Canh Ngọ (1930).

2. Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài

Ngày 12 tháng giêng Đinh Mão (13 Février 1927), Đức Chí Tôn ban tiếp phần Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài.
Thật ra, danh từ Hiệp Thiên Đài đã bắt đầu xuất hiện từ khi Thầy ban Pháp Chánh Truyền trong lời dạy về Chưởng Pháp.
 

dong tam

New member
II. TÂN LUẬT

1. Hội Tam Giáo lập Luật

Ngay từ lúc sửa sang Thiền Lâm Tự để trở thành Thánh thất Cao Đài đầu tiên, Thầy đã dạy sẽ mở Hội Tam Giáo lập Luật:

Thơ,… còn Thánh Thất con phải chăm nom tới ngày rằm cho rồi đặng hội Tam giáo lập Luật,… ”

Khi chuẩn bị Lễ Thánh Thất, đàn đêm 12 tháng 10, trong phần hành lễ sắp xếp theo thứ tự trước sau Thầy đã xác định số lượng Chức sắc từ phẩm Chưởng Pháp đến phẩm Giáo Hữu.

Mười ngày sau khi đã ban cho phần đầu của Pháp Chánh Truyền, trong đàn ngày 26.10 BD, Thầy nghiêm khắc nhắc:

Trung, Thầy đã dặn từ nét về sự lập Luật tại Thánh thất, các con chẳng một đứa nhớ. Nếu Thầy để cho Thái Bạch giáng cơ thì các con đã bị quở...

Thầy nói về sự lập Luật, con có nhớ gì đâu!

Trung, ba vị Chưởng Pháp duy có Như Nhãn đã làm rồi, còn hai phái nữa thì chơi chơi nghỉ nghỉ.

Vì sự biếng nhác của nó mà bị hành phải chết mà chớ. Chẳng một đứa biết lo. Tái cầu
.”

Khi tái cầu, Đức Lý Giáo Tông dạy:

“... Bần Đạo kỳ cho nội đầu tháng tới phải có đủ mặt tại đây lo lập Luật. Dở hay trối kệ.

Phải có luật dâng lên cho Thầy phê chuẩn, nghe
.”
[Thánh Ngôn Chép tay – Chơn Truyền Bí Yếu – Thái Thơ Thanh tờ 221]

Như vậy Tân Luật được soạn chỉ dựa vào phần Pháp Chánh Truyền được ban vào đêm Rằm rạng 16 tháng 10 Bính Dần. Cũng vì thế chúng ta thấy trong Tân Luật không có điều khoản nào đề cập đến hàng Chức việc ở xã đạo. Sau này trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải mới có đề cập đến.

Đầu tháng 11 Bính Dần như lời Đức Lý Giáo Tông đã dạy, chư vị Đại Thiên Phong về Gò Kén lo việc trình Luật. Nhưng chư vị không an tâm với những gì đã thực hiện được nên Ngài Lê Văn Trung xin được hoãn chậm lại để việc soạn chu đáo hơn. Khi đó, Đức Chí Tôn dạy các vị có trách nhiệm phải ở lại luôn Tây Ninh trong Thiền Lâm Thánh thất để tập trung tâm sức lo làm luật. Đồng thời, Thầy cũng hướng dẫn thêm những phần căn bản cần phải chú ý soạn khi lập Luật:

Trung: Bạch Thầy xin cho đình lại, qua ngày thứ bảy tới sẽ nạp Luật cho Thầy phê chuẩn.

- Phải ở luôn luôn nơi Thánh Thất đặng lập Luật sẵn.

Nghe Thầy dạy:
* Khởi đầu lập Luật tu gọi là: Tịnh Thất Luật,
* Kế nữa là lập Luật trị, gọi là Đạo Pháp Luật,
* Ba là lập Luật đời gọi là Thế Luật.

Các con hiểu à!
. . . . . . . ” [Đạo Sử Xây Bàn II. 71, đàn ngày 06.12.1926 (âl 02.11 Bính Dần)]

Theo Pháp Chánh Truyền, từ Chánh Phối Sư trở lên đến Giáo Tông có trách nhiệm tham gia phần lập Luật. Nhưng thật sự trong việc lập Tân Luật của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trong ba tháng Khai Minh Đại Đạo lúc đó đã có những vị Đại Thiên phong nào tham gia vào sự kiện lịch sử này?
 

dong tam

New member
2. Những Vị tham gia soạn và trình dâng Tân Luật

2.1. Chức sắc Cửu Trùng Đài tại thế

2.1.1. Ở phẩm Giáo Tông
:

Lúc bấy giờ phẩm Giáo Tông tại thế đang để trống.

2.1.2. Ở phẩm Chưởng Pháp:

Có hai vị là Ngọc Chưởng Pháp Trần Văn Thụ và Quyền Thượng Chưởng Pháp Trần Đạo Quang tham gia.

Thật ra lúc đầu có 3 vị Chưởng Pháp gồm các ngài: Hòa thượng Như Nhãn, Lão sư Trần Văn Thụ và Lão sư Nguyễn Văn Tương.

Nhưng vào ngày mùng 5 tháng 11 Bính Dần, chư vị nhận được hung tin Thượng Chưởng Pháp Tương vừa quy liễu ở Cai Lậy! Bận lo tang lễ nên việc lập Luật phải chậm lại.

Cũng vì việc này nên sau đó mới có việc bổ sung Ngài Trần Đạo Quang làm Quyền Thượng Chưởng Pháp.

Còn Ngài hòa thượng Như Nhãn tuy lúc đầu đã có soạn Luật nhưng sau sự biến đêm Đại Lễ Khai Minh, ông bị áp lực của các Phật tử đã đóng góp tài chánh xây dựng chùa Gò Kén nên không tiếp tục nữa!

2.1.3. Ở phẩm Đầu Sư:

Lúc đầu khi ra mắt Hội Thánh, phẩm Đầu Sư đã có 3 vị: với hai vị trí thuộc phái Thượng và Ngọc đã được sớm Thiên phong vào giữa tháng 3 Bính Dần, còn việc bổ nhiệm phái Thái là Hòa Thượng Thích Thiện Minh (Thái Minh Tinh, đệ tử Hòa thượng Như Nhãn) chỉ mới có vào trước Lễ Thánh thất.

- Về soạn luật, thật ra chỉ có 2 vị Trung Nhật và Lịch Nguyệt trực tiếp tham gia. Sau này trong một lần giáng đàn, nhị vị có nhắc lại:

Thượng Trung Nhật, Ngọc Lịch Nguyệt ...

vì trước kia khi mới Khai Đạo, lập Hội Thánh tại Tòa Thánh Tây Ninh, chính tay Hiền Huynh đã soạn thảo bản Tân Luật và... đã được Thiêng Liêng phê chuẩn
.”
[Thiên Lý Đàn, mùng 07 tháng 2 Bính Ngọ (26.02.1966)]

- Chú ý: Tịch Đạo (Danh) ở phẩm Đầu Sư của ba phái vào giai đoạn Khai Đạo là NHỰT, NGUYỆT, TINH chứ không có chữ Thanh như thông thường.

Về sau, các vị Đầu Sư cũng chỉ có Thánh danh Tịch Đạo y như các chức sắc khác.

2.1.4. Theo Pháp Chánh Truyền về việc soạn luật, khởi đầu với 3 vị Chánh Phối Sư. Vì thế các Ngài Thái Thơ Thanh, Thượng Tương Thanh và Ngọc Trang Thanh đều có tham gia vào quá trình chuẩn bị soạn Tân Luật.

Đặc biệt Thầy cũng ban ơn cho 2 vị Chức sắc Nữ phái được dự phần:

THẦY.
Con Thơ. Con hỏi việc chỉnh luật, vậy phải à con. Còn mai nầy, các Đạo hữu của con chờ con về, mà không sao, cứ đại tịnh lo làm Luật cho xong rồi sẽ về, đó con.

Phải chờ chỉnh đốn Điều luật cho oai nghi đặng vạn quốc hưởng nhờ bảy chục muôn năm đó con. Ráng làm cho hoàn tất, rồi cầu Thầy sửa cho.

Phải mời Trần Lương Phu nhân chỉ biểu, và Hương Thanh phụ bút.

Kinh luật Tam giáo là cả thể lắm con. Việc quan hệ trong thế giới, chẳng phải tầm thường đâu. Còn như chuẩn Luật rồi, thiên hạ chúng sanh hưởng nhờ vô lượng công đức đó con
.”
[Thánh Ngôn chép tay Thái Thơ Thanh tờ 239a, 09.12.1926 (âl 5.11 Bính Dần). ]

Như vậy, thành phần chức sắc tham gia vào việc lập Tân Luật có nhiều hơn qui định của Pháp Chánh Truyền. Theo lý thuyết có tất cả 10 vị Chức sắc nam gồm các vị Chánh Phối Sư, Đầu Sư, Chưởng Pháp, Giáo Tông được tham gia lập Luật.

Nhưng trong trường hợp lần đầu tiên lập Tân Luật đã có đến 11 vị Chức sắc, gồm 9 nam (3 Chưởng Pháp: Hòa Thượng Như Nhãn, Lão sư Trần Văn Thụ, Quyền Thượng Chưởng Pháp Trần Đạo Quang; 3 Đầu Sư: Thượng Trung Nhật, Ngọc Lịch Nguyệt và Thái Nương Tinh; 3 Quyền Chánh Phối Sư: Nguyễn Ngọc Tương, Nguyễn Ngọc Thơ và Lê Bá Trang) và 2 nữ được Đức Chí Tôn ân ban góp phần vào công quả trọng đại này.

2.2. Đức Lý Giáo Tông Vô Vi.

Về vô vi có Đức Lý “Quyền chưởng quản Hội Thánh”.

Bạch Ngọc Kinh Đại hội cải luật Tam Kỳ Phổ Độ, Lý Đại Tiên hữu trọng trách trọng nhậm, vấn đáp chơn lý Tam Kỳ cứu tận chúng sanh, nhựt nhựt thường tại,...”
 

dong tam

New member
3. Tiến trình lập thành Tân Luật

Đây là tiến trình Thiên Nhân hiệp nhất.

3.1. Lần thứ nhứt trình dâng Tân Luật

Sau tang lễ Ngài Chưởng Pháp Thượng Tương Thanh vào giữa tháng 11, chư vị cố gắng hoàn tất phần việc của mỗi vị.
Khi đó, Đức Lý Giáo Tông chỉ thị cho Ngài Thượng Trung Nhật về ngày giờ và cách thức tiến hành hội nghị.

3.1.1. Thứ bảy, 18.12.1926 (âl 14.11 Bính Dần)

Thái Bạch
Hỷ chư Đạo hữu, chư Đạo muội.

Thượng Trung Nhựt, hiền hữu nghe dạy:

Phải viết thơ cho các Thánh nói rằng: Buổi lập Luật phải ngưng sự phổ độ lại đôi chút. Lo cho xong Tân Luật thì mới truyền bá Chơn Đạo rõ lý hơn.

Vậy ngày Đại lễ Thánh giáo Giáng sinh, phải có mặt tại đây cho đủ và nạp Luật cho kịp ngày ấy.

Làm lễ xong, qua ngày kế thì chư Thánh mặc Đại phục, vào Đại điện bái, rồi Hiền hữu biểu sắp ghế vòng theo Đại điện. Hiền hữu và Ngọc Lịch Nguyệt lên tọa bửu vị, rồi theo chức phận chư Thánh mà ngồi vòng hai bên như lúc hiền hữu còn tại Thượng Nghị Viện, đặng cãi luật đó vậy.

Hiền hữu chưởng quản làm chủ Hội, mỗi vị Thánh đều đặng quyền cãi lẽ, nghe à! Phải giữ phép, kẻ trước người sau, tùy phiên nhau cho có lễ: phái Thái trước, phái Thượng giữa, phái Ngọc chót. Phải viết thơ cho Tương và Trang nạp Luật cho kịp một lượt với Thơ, nghe à! .
. . ” (ĐS. II. 104)

Đến ngày Giáng Sinh chư vị Thiên phong các cấp tập trung về Thánh thất Thiền Lâm dự hội nghị thảo luận về dự luật.

Đêm hôm đó Đức Giáo Tông giáng dạy:

3.1.2. Vendredi 24 Décembre 1926 (20.11 Bính Dần)

Ðại hỉ, đại hỉ. Lão mừng cho chư Ðạo Hữu.

Chỉnh đàn Thầy ngự. Trung, hiền hữu nhớ mời hội từ 6 giờ mơi chí 11 giờ nghỉ, từ 2 giờ tới 6 giờ nghỉ, tối từ 8 giờ tới 11 giờ nghỉ. Như chưa hoàn toàn ngày mai cũng phải vậy. Thầy dặn phải tuân y theo lời. Luật lệ truyền lâu dài, chư Ðạo Hữu phải ráng cẩn thận nghe à
.”

Chúng ta thấy lịch làm việc của hội nghị rất tập trung. Buổi sáng tiến hành 5 tiếng, buổi chiều 4 tiếng và buổi tối 3 tiếng.

Cuối ngày, sau khi hoàn tất hội nghị, chư vị dâng Luật và lập đàn nghe dạy:

3.1.3. Thứ bảy, 25.12.1926 (âl 21.11 Bính Dần).

“... Vậy Lão giao ba Bộ Luật hiệp một cho Thái Thơ Thanh trước, nội trong một tuần lễ, phải hiệp thế nào cho ba Bộ ba phái chung vô làm một. Qua tuần nữa tới Thượng Tương Thanh, kế một tuần nữa tới Ngọc Trang Thanh.
Nghĩa là trong ba tuần nữa phải lập thế nào cho rồi Luật lệ, đem về Thánh Thất đặng cãi lại nữa
.” (ĐS. II. 120)

Hôm sau, Đức Lý dặn dò thêm

3.1.4. Dimanche 26 Décembre 1926 (22.11 Bính Dần).

Hỉ chư Ðạo Hữu, chư Ðạo Muội, chư Chúng Sanh,
Trung, hiền hữu nhớ viết thơ cho chư Thánh ngày cãi luật phải đủ mặt, bằng ai chẳng tuân mạng Lão trục xuất nghe à... Chỉnh đàn Thầy ngự
.”

Như vậy, ngoài những vị Thiên phong Nam phái được tham dự vào các buổi thảo luận về Tân Luật, về Nữ phái chỉ có sự hiện diện của một vài Chức Sắc Nữ đã được Thiên phong
 

dong tam

New member
3.2. Lần thứ nhì trình dâng Tân Luật

Sau kỳ hạn 3 tuần, chư vị Chánh Phối Sư nạp lại phần dự Luật đã chỉnh sửa. Khi đó, Đức Lý giáng đàn nhắc:

3.2.1. Samedi 15 Janvier 1927 (12 tháng Chạp Bính Dần)

Hỉ chư Ðạo Hữu, chư Ðạo Muội, chư Nhu lui.

Thượng Trung Nhựt, Hiền Hữu cũng nên để tịnh tâm đặng lo cãi Luật, chẳng nên ham vui quá nghe. Thầy sẽ ngự trong lúc cãi Luật. Lão giáng cơ trước khi mở hội.

Vậy khi chư Thánh đủ mặt phải cầu cơ cho Lão dạy việc, chừng Lão ngự Ðại Ðiện thì tức cấp khai hội liền.
Hết thảy đều mặc Ðại phục trong khi cãi Luật, chẳng nên thay Tiểu phục. Chư Thần, Thánh, Tiên, Phật ngự xem coi ra khiếm lễ vậy... nghe à... tuân.

Ngày nay chẳng dạy văn, Lão để chư đạo hữu tịnh trí
.”

Lúc bấy giờ, hai vị hòa thượng Như Nhãn và Thiện Minh đã rút lui vì thế có sự khiếm khuyết nhân sự trình dâng Luật. Đêm 12 tháng chạp đó, Đức Chí Tôn giáng đàn bổ sung thêm Quyền Chưởng Pháp Trần Đạo Quang và Thái Đầu Sư là Ngài Thái Nương Tinh như đã trình bày ở trên. Vì thế 3 vị hân hạnh được tham gia tiến trình dâng Luật gồm các Ngài Thượng Trung Nhật, Ngọc Lịch Nguyệt và Thái Nương Tinh.

Ngọc Hoàng Thượng Ðế viết Cao Ðài Giáo Ðạo Nam Phương

Các con, Chưởng Pháp, nhị Ðầu Sư tọa vị.

Ðạo Quang, con phải Quyền Chưởng Pháp.

Nương, Thầy dặn con, con chẳng hề nghe đến. Thầy muốn bỏ, song vì cựu vị nên chẳng đành. Từ đây phải lo Ðạo nghe. Thầy phong con chức Thái Ðầu Sư, phải hành Ðạo mà hiệp sức phổ độ phái Thái. Thái Minh Tinh bị Lý Bạch cách chức
.”

Thời điểm này, đó là lần đầu tiên Ngài Trần Đạo Quang được Thiên phong mặc dầu đã quy sang Cao Đài từ hơn bốn tháng trước.

3.2.2. Hôm sau, việc dâng Tân Luật được Đức Giáo Tông Thái Bạch điều hành ngay trong buổi đàn cơ:

Hai vị Chưởng Pháp và ba vị Đầu Sư được dạy phải ngồi trên Ngai của mình, các vị còn lại đứng sang hai bên chứng kiến nghi thức buổi dâng Luật lần thứ hai.

Lão khen chư Ðạo Hữu, đại hỉ, đại hỉ, đại hỉ.

Thượng Tương Thanh, coi Lão hành sự mà học chước.

Mời Chưởng Pháp phái Nho. Chư Hiền Hữu bình thân. Ðứng bài ban. Chưởng Pháp, Ðầu Sư tọa vị.

Phối Sư Tam Giáo tới trước. Thái Thơ Thanh phải ôm bộ Chú giải các Luật, Tân Luật của chư Hiền Hữu cãi đó nữa. Thơ Thanh ôm chí mày dâng cho Tương Thanh, rồi Tương Thanh cũng phải làm như vậy mà giao cho Trang Thanh phò. Bái nhau ... Trang Thanh ôm Luật, hiệp với nhị vị Hiền Hữu đến dâng cho ba vị Ðầu Sư.

Ba vị Ðầu Sư đồng đứng dậy bái mà tiếp Luật một lượt, thế nào sáu bàn tay đều có trong mấy bộ Luật. Ngay giữa ...
Cả ba tiếp dâng lên Chưởng Pháp. Hai vị Chưởng Pháp cũng phải bái mà tiếp một lượt, đội dâng lên Ðại Ðiện. Day vô... Ðưa lên chí trán nghe dạy: Lão giao Luật này cho nhị vị Chưởng Pháp xem xét lại nữa trong một tháng phải rồi mà giao lại cho Hộ Pháp cầu Lão sửa Luật.

Phải làm một phòng thanh tịnh mà giả làm Hiệp Thiên Ðài; Thập Nhị Thời Quân phải có mặt; Thượng Sanh, Thượng Phẩm phải có mặt khi cầu Lão. Phải tái cầu nghe dạy.

Nhị vị Chưởng Pháp đem Luật để ngay tượng Lão một đêm nay.(...).

Ðem Luật để lên rồi xuống tọa vị. Lên đầu... để xuống...

Chư Thiên Phong đồng lạy Thầy
.”

Giờ Tý đêm đó, rạng 14 tháng chạp Bính Dần, chư vị tái lập đàn theo lệnh dạy của Đức Lý. Ngài giáng cơ dạy:

Hỉ chư Ðạo Hữu,

Nhị Ðạo Muội, Lão rảnh sẽ nói chuyện nghe. Khai môn.

Lão đương quyền là Giáo Tông, ngặt nỗi Lễ chức chưa có đặng giao Luật lại. Vậy Lão cậy nhị vị Hiền Hữu, Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt, thế giùm chức ấy, lên Ðại Ðiện phò Luật, đặng giao Hiệp Thiên Ðài cho Hộ Pháp.

(Thượng Sanh vắng mặt)...

Một ngày bỏ làm việc, chẳng đặng sao há?

Hộ Pháp, Thượng Phẩm nghe dạy: Nhị vị Hiền Hữu lên bàn đứng theo phẩm mình đợi Luật đến, bái tiếp rồi Hộ Pháp bắt ấn tay mặt của Hộ Pháp mà để trên chồng Luật ấy. Còn Thượng Phẩm thì lấy cây quạt mà che trên.

Nhị vị Chưởng Pháp khi tọa vị rồi đến Ngai bái thì hai người phải bái lại như lúc hành lễ hôm qua.

Hộ Pháp khi đưa Luật thì nói: Kỳ một tháng nạp lại
…”

Hai vị Chưởng Pháp có kỳ hạn một tháng để xét nét dự Luật lần nữa. Trong thời gian này, vào ngày gần cuối năm chư vị lập đàn cầu Đức Lý, nhưng Đức Quan Âm giáng đàn rầy:

Hỷ chư Đạo hữu, chư Đạo muội.

Hà sự cầu cơ?

Bạch Ngọc Kinh Đại hội cải luật Tam Kỳ Phổ Độ, Lý Đại Tiên hữu trọng trách trọng nhậm, vấn đáp chơn lý Tam Kỳ cứu tận chúng sanh, nhựt nhựt thường tại, bất đắc hạ trần giáng cơ chỉ giáo.

Chư Đạo hữu vật khi mạng lịnh.

Chí tứ nhựt Tân niên, Đại Tiên tái hiệp. Kính lễ. Thăng
.”

Qua nội dung lời Thánh giáo, chúng ta cũng biết thêm trong thời gian dưới trần thế đại tịnh lo lập Tân Luật thì nơi cõi Thiêng Liêng cũng có đại hội để “cải luật Tam Kỳ Phổ Độ”. Đức Lý phải thường xuyên có mặt trong các buổi vấn đáp.
 

dong tam

New member
3.3. Lần thứ ba dâng Tân Luật

3.3.1. Mercredi 9 Février1927 (Mùng 8.01 Ðinh Mão)

“… Lão đã nói, Ðạo đã lập thành, vậy cây cờ chơn chánh đã vững gốc đặng làm biểu hiệu cho cả chúng sanh dòm lấy đó mà đến nơi Bạch Ngọc Kinh… …

Thượng Trung Nhựt, Lão đã nói, mà Thầy cũng đã nói trước rằng: Khi thành Ðạo, nghĩa là khi Tân Luật phát hành… Lão ban phước cho cả chư đạo hữu chư đạo muội.

Chư đạo muội khá hội đủ ngày nạp Luật
.”

Sau đó trong hai ngày 11 và 12 tháng giêng, căn bản các phần còn lại về tổ chức Lập Pháp được Đức Lý Giáo Tông ban cho hoàn tất Pháp Chánh Truyền trước khi bộ Tân Luật hoàn chỉnh được dâng trình lần sau cùng.

3.3.2. Một tháng sau khi nhị vị Chưởng Pháp xem xét, ngày 14 tháng giêng Đinh Mão Hội Thánh trình dâng Tân Luật lên Ơn Trên.

Trước đó ít hôm, Đức Lý có giáng cơ dạy:

Thái Bạch hỉ…

Nhị vị Chưởng Pháp hiền hữu làm cho thêm công của. Hội Thánh phải hội lại đặng xem xét bộ khuyến đạo của nhị vị lập, nữa để lại. Chẳng sửa cho toàn bộ chú giải của Thái Thơ Thanh, vẫn thô sơ ban hành ra sao … làm cho nhọc sức.

Hiệp Thiên Đài ít nữa là hai tuần nữa mới vẹn.

Thầy dặn Lão chỉ sửa cơ mật nhiệm của luật lệ, phải tùy nguyên văn của Hội Thánh. Lão đương quyền Giáo Tông, vậy chư đạo hữu cũng nên tưởng rằng Lão có xác thịt như chư đạo hữu vậy. Lão là Giáo Tông tuy quyền hành chưởng quản về Đạo mặt dầu nhưng mà ba vị Chưởng Pháp vẫn hiệp một cùng Lão có quyền can gián sửa lỗi Lão. Vậy chúng ta tuy bốn chớ vẫn cũng một. Phải làm lễ dâng lên ngay tượng Lão để hai bữa rồi Lão sẻ dẫn qua Hiệp Thiên Đài nghe à.

Còn Hộ Pháp, Thượng Phẩm nhị vị hiền hữu phải để ngay căn giữa một Thiên bàn phân 12 vị Thời Quân ra thể này.
Giữa trước Thiên bàn thì Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh đứng. Trước mặt thì bốn vị Thời quân: Hậu Đức Nghĩa Tràng. Bên hữu của Hiệp Thiên Đài thì để Tươi, Chương, Kim, Đãi. Bên tả thì Mai, Nguyên, Mạnh, Phước. Còn 2 đứa cầm cờ là Mùi, Vĩnh đứng hai bên cột gần thang lên.

Chừng Lão dâng luật lên thì Lão sẽ mượn hai vị Đầu Sư chịu phiền là nội lễ ngoại lễ đến thì Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh tiếp Luật vào. Rồi tức thì cầu cơ cho Chí Tôn giáng phán dạy nghe à. Chiều nay dâng Luật cho Lão
.”

[Thánh Ngôn Chép tay – Chơn Truyền Bí Yếu – Thái Thơ Thanh tờ 403b và 404a. Bài Thánh Ngôn này không có ghi ngày. Nhưng được chép sau bài ngày 11 tháng giêng và trước bài ngày 14 tháng giêng Đinh Mão.]

Sau khi trình dâng Tân Luật hoàn chỉnh. Đến thời điểm này Rằm tháng giêng Đinh Mão (1927), 3 tháng “hội Tam giáo lập Luật” cũng bước vào thời điểm kết thúc theo thời hạn đã được ban ân của Đức Chí Tôn trước khi khai mạc đại lễ.
 

dong tam

New member
4. Đức Chí Tôn phê duyệt và ban hành Tân Luật

4.1. Sau đó Đức Chí Tôn ân phê và ban hành Tân Luật vào ngày mùng 4 tháng 2 Đinh Mão (7.3.1927).

Thầy dạy Ngài Thượng Đầu Sư chưởng quản Hội Thánh vào thời điểm đó:

Trung, con cũng cho các đạo hữu rõ rằng: Tân Luật đã lập thành. Hội Thánh cứ đó mà ban hành.”

4.2. Sau đó, Hội Thánh cho in quyển Tân Luật và phát hành giữa năm 1927.

Cuối lời Tiểu Tựa của quyển Tân Luật có câu: “Tân Luật này ban hành kể từ ngày 01.6.1927”.
 

dong tam

New member
III. KẾT LUẬN

1 - Lịch sử Lập Pháp Tam Kỳ.

Gắn liền với 3 tháng “hội Tam giáo lập Luật”. Khởi đầu với Pháp Chánh Truyền được Thiên ban, kết thúc với việc bổ sung Pháp Chánh và trình dâng lần thứ ba Tân Luật hoàn chỉnh. Vậy chúng ta nên tập thói quen nói đúng thứ tự ra đời của hai văn bản luật căn bản này của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ: Pháp Chánh Truyền và Tân Luật.

Pháp Chánh Truyền là nền tảng để chư vị Tiền Khai Đại Thiên phong dựa vào soạn nên phần Đạo Pháp trong Tân Luật.

2 – Lịch sử Pháp Chánh Truyền.

- Phần lớn nội dung của Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài lần lượt đã được Đức Chí Tôn ban cho vào thời gian đầu và thời gian cuối của 3 tháng “Lễ Thánh Thất – Đại hội Tam Giáo lập Luật”. Cũng có phần đóng góp của Đức Lý Giáo Tông, đặc biệt là phần Pháp Chánh Truyền về Cửu Trùng Đài Nữ phái.

Lúc đầu phần Lập Pháp vẫn chưa hoàn chỉnh, mới chỉ có 8 bậc, chưa có phẩm Chức Việc (Chánh Trị sư, Phó Trị Sự và Thông Sự). Phải đến đầu tháng 10 năm Canh Ngọ (1930) qua Đạo Nghị Định số ba mới bổ sung hoàn chỉnh hệ thống 9 bậc của Cửu Trùng Đài. Từ đây Pháp Chánh Truyền mới hoàn chỉnh như văn bản hiện hành.

- Cần lưu ý trong Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài không có phần qui định về “Công cử” như Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài.

Trên nguyên tắc, Pháp Chánh Truyền Hiệp Thiên Đài không có nữ phái tham gia.

3 – Lịch sử soạn thảo và trình dâng Tân Luật.

- Có 12 vị bên Cửu Trùng Đài tham gia quá trình soạn thảo và trình dâng Tân Luật, gồm 11 vị chức sắc hữu hình (9 nam, 2 nữ) và Đức Lý Giáo Tông vô vi.

Trong khi trên nguyên tắc của Pháp Chánh Truyền chỉ có 10 vị chức sắc hữu hình từ Giáo Tông đến Chánh Phối Sư.

- Khi soạn Tân Luật, chư vị Tiền Khai dựa vào lời Thánh Ngôn của Thầy đã dạy nhưng có điều chỉnh cho phù hợp với trình độ nhân sanh vào lúc ấy. Như phần Đạo Pháp được đưa lên trước và nơi Chương I “Về Chức sắc cai trị trong Đạo”, số lượng chức sắc ở mỗi phẩm từ Giáo Tông cho đến Lễ Sanh dựa theo lời Thánh Ngôn đêm 12 tháng 10 và phần Lập Pháp Đức Chí Tôn ban cho đêm rằm rạng 16 tháng 10 Bính Dần.

Các chức sắc nam nữ thời bấy giờ từ Giáo Hữu trở lên đều có nghĩa vụ phải hiện diện trong các lần Đại Hội Đồng cãi luật. Tất cả phải mặc Đại phục.

Thời gian hội nghị trong mỗi ngày theo lệnh dạy của Đức Lý gồm 3 buổi, tổng cộng 12 tiếng.

- Về Chức sắc Hiệp Thiên Đài tiếp nhận dâng trình lên Ơn trên, có đủ các Chức sắc Hiệp Thiên Đài đứng đầu 3 Chi và các Thập Nhị Thời Quân.

Một thời gian sau khi đã có hai văn bản luật này, các danh từ như Bát Quái Đài, Cửu Trùng Đài và Hiệp Thiên Đài mới được Ơn Trên sử dụng để diễn đạt đầy đủ về nền tổ chức của Đại Đạo.

4 – Tương lai sẽ có việc bổ sung Tân Luật

Tân Luật chỉ mới nêu lên một số điểm chánh yếu liên quan đến hoạt động của Cửu Trùng Đài nhưng chưa đề cập đến tổ chức của Hiệp Thiên Đài.

Trong tương lai, khi Tân Luật được Hội Thánh Duy Nhất soạn lại để thích ứng với sự tiến bộ của đời sống chắc chắn sẽ có những bổ sung cần yếu. Thí dụ cụm từ “cai trị trong Đạo” không phản ảnh đúng tinh thần đạo đức của người tu.
 

dong tam

New member
NGÀY THẦY LẬP ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ

Mồng 1 Tết Tân Dậu 1921, tại Quan Âm Tự, Ngài Quan Phủ Ngô Văn Chiêu nhận lệnh: “Chiêu tam niên trường trai” … … để trở thành người đệ tử đầu tiên của Đức Cao Đài Tiên Ông. Cơ Nội Giáo Tâm Truyền đã khởi phát tại Dương Đông – Phú Quốc.

Ở Sài gòn; sau tiến trình chuẩn bị tâm lý và đức tin cho ba vị Cao Quỳnh Cư, Phạm Công Tắc, Cao Hoài Sang thuộc nhóm phổ độ; vào Noel 1925 Đức Cao Đài Thượng Đế bắt đầu chính thức xưng danh đầy đủ “Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát Giáo Đạo Nam Phương”. Trong đàn hôm đó, Đức Cao Đài đã nhắn với ba vị:

Giờ ngày gần đến, đợi lịnh.(…) Bấy lâu Thầy vẫn tá danh AĂÂ là để cốt dìu dắt các con vào đường đạo đức hầu chẳng bao lâu đây các con phải ra giúp Thầy Khai Đạo”.

Vào đầu năm 1926, Đức Chí Tôn khởi sự dạy đạo cho ba vị và tiếp tục vận chuyển thâu nhận thêm các thành viên mới như quý ông: Vương Quang Kỳ, Lê Văn Trung, Nguyễn Trung Hậu, Đoàn Văn Bản, Lý Trọng Quý, Lê Văn Giảng, Trương Hữu Đức, ...

Khi đã hội đủ cả hai yếu tố tâm pháp vô vi và công truyền, âm dương phối hợp, phôi thai Cao Đài tượng hình và phát triển qua sự kết hợp giữa hai nhóm tâm pháp và phổ độ để cùng nhau nhìn nhận có chung một Thầy là Đức Cao Đài Thượng Đế được thờ kính qua biểu tượng Thiên Nhãn. Rồi đúng 2 tháng sau ngày Vọng Thiên Cầu Đạo (mùng 1 tháng 11 Ất Sửu) thời kỳ phôi thai hoàn tất, thời điểm lập đạo - Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã được Đức Chí Tôn khai lập vào giao thừa giờ Tý năm Bính Dần 1926.

Đàn giao thừa khi đó, Đức Chí Tôn dạy:

Chiêu, buổi trước hứa lời truyền Đạo cứu vớt chúng sanh. Nay phải y lời làm chủ, dìu dắt cả môn đệ Ta vào đường đạo đức cho đến buổi chúng nó công thành, chẳng nên tháo trút. Phải thay mặt Ta mà dạy dỗ chúng nó.

Trung, Kỳ, Hoài ba con phải lo thay mặt cho Chiêu đi độ người. Nghe và tuân theo.

Bản, Sang, Giảng, Quý lo dọn mình đạo đức đặng truyền bá cho chúng sanh. Nghe và tuân theo.

Đức tập cơ, Hậu tập cơ. Sau theo mấy anh đặng độ người. Nghe và tuân theo
.”

Lời dặn dò đêm Noel “các con phải ra giúp Thầy Khai Đạo” của Đức Thượng Đế Kim Viết Cao Đài nay đã thành hiện thực. Trong Thánh Lịnh đêm giao thừa Bính Dần này, với các cụm từ như “đi độ người” và “truyền bá cho chúng sanh”, kỷ nguyên Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ hay Cao Đài Giáo đã bắt đầu với mười hai môn đệ đầu tiên.

Tuy là sự kiện và thời điểm quan trọng như thế trong tiến trình đạo sử hình thành và phát triển của nền Tân Giáo Cao Đài nhưng hiện nay sự kiện quan trọng này, đánh dấu thời điểm ra đời của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ - Cao Đài Giáo, hầu như bị chìm vào quên lãng theo lớp bụi của thời gian! Mặc dầu đúng một năm sau vào giao thừa năm Đinh Mão 1927, Đức Chí Tôn đã nhắc lại thời điểm lịch sử này với các môn đệ trung kiên của Ngài.

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển 1 Bổn Thứ Nhứt xuất bản lần đầu tiên vào năm 1928.

• Ở trang 69 có đàn tại Thánh thất Cầu Kho (1er Février 1927)

“… Nền Đạo cao thâm là mấy, chí phàm không thấu lý sâu. Nếu các con chẳng ra khỏi vòng trần tục thì các con chẳng là luống công theo Thầy kể cả đầy năm.”

• Tiếp đó, ở trang 70 có đàn giao thừa ở Tây Ninh, 1 Février 1927 (1er.01 Đinh Mão) nội dung nhắc lại sự kiện lịch sử trước đó tròn một năm, như sau:

“... Trung, Cư, Tắc, mấy con nhớ đêm nay năm rồi thế nào, còn nay ra thế nào chăng? Thầy lập đạo năm rồi ngày này, thì môn đệ của Thầy chỉ có 12 đứa... Thầy hỏi nếu chẳng phải quyền hành Thầy, dù cho một vị Phật thiệt lớn giáng thế đi nữa cũng chưa có phương chi mà độ hơn bốn muôn sanh linh nhờ tay có sáu đứa môn đệ trong một năm cho đặng bao giờ.”
 

dong tam

New member
1. Trong quyển Đạo Sử Xây Bàn số 2, bà Phối Sư Hương Hiếu có ghi lại danh sách Phong Thánh Nữ Phái lần thứ nhứt.

Trong văn bản hành chánh này của ngày 14 tháng giêng Đinh Mão (15 Février 1927) ghi Đệ Nhị Niên.

Có lẽ đây là văn bản hành chánh xưa nhứt ngay trong 3 tháng “Lễ Thánh Thất… hội Tam giáo lập luật” có ghi Năm Đạo.

Và nếu đúng như thế thì nội dung đàn giao thừa Đinh Mão đã có ý nghĩa rất lớn đến với ý thức về cách ghi Năm Đạo cho chư vị Tiền Khai.

2. Năm 1968, trong Đạo Sử Xây Bàn, bà Chánh Phối Sư Hương Hiếu ghi nhận các sự kiện:

- “Ngày Vọng Thiên Cầu Đạo (mùng 1 tháng 11 Ất Sửu 1925) là sắp vô đề mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Các Đấng dìu dắt ba ông lần lần, nghĩa là ba ông mới nhập trường Đạo”.

- Noel 1925, Đức Chí Tôn dạy: “Ta rất vui lòng đặng thấy ba đệ tử kính mến Ta như vậy, nhà nầy sẽ đầy ơn Ta. Ngày giờ gần đến, đợi lịnh.”

- Đàn giao thừa Bính Dần 1926: “… Đức, Hậu tập cơ sau theo mấy anh mà độ người. Nghe và tuân theo.”

Ấy là lời Thánh Giáo và là ngày Kỷ Niệm Khai Đạo Cao Đài về cơ phổ hóa, ngày mùng 1 năm Bính Dần giờ Tý vậy (13 Février 1926).”

3. Năm 1970, Đại Đạo Sử Cương của Giáo Sư Trần Văn Rạng thuộc Toà Thánh Tây Ninh cũng nhắc lại lời Thánh Giáo đêm giao thừa Bính Dần 1926 và kết luận:

Đó là lời Thánh Giáo đầu tiên và là ngày kỷ niệm Khai Đạo Cao Đài về cơ phổ hóa.”

4. Gần đây nhất, một nhà nghiên cứu khá nổi tiếng là Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng, trong Đạo Sử Nhựt Ký của mình sau khi dẫn chứng lại nguồn tài liệu “Đạo Mạch Truy Nguyên” và “Đại Đạo Căn Nguyên” đã đi đến kết luận: “Cho nên việc lấy ngày 01-01 Bính Dần làm kỷ nguyên Khai Đạo để bắt đầu tính Đạo lịch thì rất hợp với thực tế Đạo Sử và rất dễ tính Đạo lịch vì mỗi năm chỉ có một Đạo lịch.”

Và ông cũng nhắc lại bài Thánh Ngôn giao thừa Đinh Mão với lời kết: “Bài Thánh Ngôn này của Đức Chí Tôn, một lần nữa cho thấy rằng, việc chọn ngày 01-01 Bính Dần làm kỷ nguyên của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là rất hợp lý.”
 

Facebook Comment

Top