<P> <FONT color=#0000ff size=3>Kính mời chư huynh tỷ xem lại một gương xưa tích cũ rất hay , tiểu đệ xin mạn phép trích lục , ngõ hầu làm gương sáng soi cho hậu thế noi theo.</FONT></P>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff> Trương Lương, họ Trương tên Lương, tự là Tử Phòng, người nước Hàn. Tổ tiên 5 đời của Trương Lương đều làm quan Tướng Quốc nước Hàn. Cha tên là Bình, làm Tướng Quốc cho vua Hàn là Ly Vương và Điệu Huệ Vương. Khi cha chết, Trương Lương còn ít tuổi nên chưa được tập ấm làm quan.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi nước Hàn bị Tần Thủy Hoàng đánh tan, sáp nhập vào nước Tần, lúc đó Trương Lương có 300 tôi tớ trong nhà.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Em của Lương chết, Lương không lo chôn cất, mà lo bán tất cả gia tài, giải tán các tôi tớ, dùng tiền đi tìm một người làm thích khách để giết vua Tần, báo thù cho nước Hàn.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương thường học lễ ở Hoài Dương, đi về đông yết kiến một vị ẩn sĩ tên là Thương Hải Quân, tìm được một dũng sĩ họ Lê, thường gọi là Trưng Hải Công, xử dụng một đôi chùy nặng 120 cân.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi hay tin Tần Thủy Hoàng đi chơi qua miền đông, Trương Lương cùng với dũng sĩ rình núp ở bãi cát Bác Lãng, chờ khi xe của Tần Thủy Hoàng đi qua thì xông ra đánh, nhưng lại đánh nhầm xe của bọn tùy tùng. Tần Thủy Hoàng nổi giận, giết chết dũng sĩ họ Lê, rồi cho lịnh truy lùng bắt cho kỳ được Trương Lương.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Lương phải đổi tên họ, cải dạng, trốn tránh ở Hạ Bì.</FONT></P>
<P =THAN style="TEXT-ALIGN: center"><B><FONT color=#ff00ff size=4>Trương Lương dâng dép 3 lần:</FONT></B></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Một hôm, Trương Lương ra cầu Hạ Bì ngồi chơi, gặp một cụ già mặc áo cộc, cốt cách phương phi, đi ngang qua cầu, bỗng làm rớt chiếc dép xuống cầu. Cụ quay lại thấy Lương ngồi đó thì bảo rằng:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Thằng bé, xuống cầu lượm dép giùm ta.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Lương ngạc nhiên muốn cự lại, nhưng thấy cụ già cả nên cố nhịn, lội xuống dạ cầu lượm chiếc dép đem lên cho cụ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Ông cụ lại bảo: - Xỏ vào chân ta.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Lương đã trót lấy dép lên nên luôn tiện ngồi xuống xỏ dép vào chân của cụ. Cụ già mang dép xong, cười rồi bỏ đi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Lát sau cụ quay lại cầu, loay quay thế nào lại rớt dép lần nữa. Rồi Cụ cũng biểu Lương lội xuống lượm dép cho Cụ và xỏ vào chân Cụ. Lương thấy việc nầy có vẻ lạ, nên cũng vâng lời, làm vừa lòng cụ già lần nữa.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Cụ già lại dở chưn dở tay thế nào lại làm rớt dép lần thứ ba. Lần nầy Cụ cũng biểu Lương xuống nhặt dép cho Cụ như hai lần trước. Trương Lương đã trót hai lần giúp Cụ già nên lần nầy cũng ráng giúp cụ cho trót. Cụ già mang dép vào chân xong, cười rồi bỏ đi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Một lát Cụ quay trở lại, nói với Trương Lương rằng:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Thằng bé nầy dạy được! Năm ngày sau, sáng tinh mơ, mày đến gặp ta tại đây.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương lấy làm lạ, nhưng cũng đáp: - Vâng.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Đúng 5 ngày sau, sáng tinh mơ, Trương ra cầu thì đã thấy Cụ già đã ở đó từ trước. Cụ có ý giận, nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Đã hẹn với người già cả, lại đến sau, là cớ gì?</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Cụ bỏ đi, rồi quay lại nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Năm ngày nữa ra gặp ta ở đây cho sớm.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Năm ngày sau, Trương Lương ra cầu thật sớm, vào lúc gà gáy, nhưng lại thấy Cụ già đã đến trước rồi. Cụ giận, nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Năm ngày sau, hãy ra đây cho sớm.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Đúng năm ngày sau nữa, chưa đến nửa đêm thì Trương Lương ra cầu, một lát sau thì thấy Cụ già đi tới. Cụ vui vẻ nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Thế mới phải chứ!</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Rồi Cụ trao cho Lương một quyển sách, Cụ nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Học trong quyển sách nầy thì làm thầy của bực đế vương. Mười năm sau sẽ ứng nghiệm. Mười ba năm sau con sẽ đến gặp ta, hòn đá màu vàng dưới chơn núi Cốc Thành ở phía Bắc sông Tế là ta đó.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Cụ già nói xong thì đi mất.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Sáng hôm sau, Trương Lương mở sách ra xem thì đó là quyển "THÁI CÔNG BINH PHÁP". Trương Lương vô cùng mừng rỡ, ngày đêm chuyên cần nghiên cứu học tập.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Cụ già tặng sách cho Trương Lương là Ông Tiên Huỳnh Thạch Công. (Huỳnh Thạch là cục đá màu vàng).</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Nhờ công dâng dép 3 lần cho Tiên Ông nên được Tiên Ông tặng cho sách quí, học trong đó mới trở nên tài giỏi, làm thầy cho bực đế vương (tức là làm Quân Sư), bày mưu tính kế, đánh đông dẹp bắc, bình trị thiên hạ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Do đó, Tiên Nương Đoàn Thị Điểm viết trong Nữ Trung Tùng Phận bốn câu thơ nhắc lại sự tích nầy:</FONT></P>
<DIV align=right>
<TABLE style="BORDER-COLLAPSE: collapse" cellSpacing=0 cellPadding=0 width="75%">
<T>
<TR>
<TD vAlign=top align=left width="10%"><FONT color=#0000ff> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="5%"><FONT color=#0000ff> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="85%" colSpan=2><I><FONT face="Times New Roman" color=#0000ff size=3>Lựa những mặt tài tình thọ giáo,<BR>Học cho thông mối đạo quân thần.</FONT></I></TD></TR>
<TR>
<TD vAlign=top align=left width="10%"><FONT color=#0000ff size=3> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="5%"><FONT color=#0000ff size=3> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="5%"><FONT color=#0000ff size=3> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="80%"><I><FONT face="Times New Roman" color=#0000ff size=3>Trương Lương dâng dép ba lần,</FONT></I></TD></TR>
<TR>
<TD vAlign=top align=left width="10%"><FONT color=#0000ff size=3> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="90%" colSpan=3><I><FONT face="Times New Roman" color=#0000ff size=3>Chút công ấy định Hớn Tần nên hư.</FONT></I></TD></TR></T></TABLE></DIV>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương ở Hạ Bì làm người nghĩa hiệp, Hạng Bá giết người bị tội, đến đây trốn lánh, được Lương che chở và giúp đỡ, tạo một cái nhân tốt về sau.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Mười năm sau (năm 209 tr.TL), Trần Thiệp khởi nghĩa chống lại nhà Tần, Trương Lương cũng tập hợp được hơn 200 trai tráng. Cảnh Câu ở đất Lưu tự lập làm Giả Vương nước Sở. Lương muốn theo phò, giữa đường Lương gặp Bái Công Lưu Bang. Bái Công có mấy ngàn quân đánh chiếm được đất ở phía Tây Hạ Bì. Lương bèn theo phò Bái Công.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Lương đem binh pháp của Thái Công ra trình bày với Bái Công, được Bái Công khen hay và dùng theo sách lược đó. Có lần Lương nói binh pháp cho người khác nghe thì họ tỏ ra không hiểu. Lương tự nhủ: Bái Công là người Trời chăng?</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Vì vậy, Lương nhứt định theo Bái Công, không định theo Cảnh Câu nữa.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Bái Công đến đất Tiết, yết kiến Hạng Lương. Hạng Lương lập Sở Hoài Vương lên làm vua nước Sở. Trương Lương nói với Hạng Lương:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Ngài đã lập cháu của vua Sở lên làm Sở Hoài Vương thì cũng nên lập công tử nước Hàn là Hành Dương Quân, tên là Thành, là người hiền lên làm vua nước Hàn để tăng thêm vây cánh.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Hạng Lương bằng lòng, lập Hành Dương Quân lên làm Hàn Vương.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Nhờ mưu kế của Trương Lương, Bái Công thắng quân Tần nhiều trận lớn, đến được kinh đô Hàm Dương trước Hạng Võ, vua Tần lúc bấy giờ là Tử Anh, cháu nội của Tần Thủy Hoàng, đem ấn tín ra hàng Bái Công.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Bái Công vào kinh đô nhà Tần, thấy cung điện rất xa hoa lộng lẫy, cung phi mỹ nữ hàng ngàn, vật quí nhiều vô kể, nên có ý muốn ở lại đây. Phàn Khoái can gián hết lời nhưng Bái Công không nghe. Trương Lương nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Nhà Tần làm điều vô đạo nên Chúa công mới đến được đây. Đã cốt vì thiên hạ mà giết bọn giặc tàn ác thì ta nên ở theo lối mộc mạc để tỏ cái đạo đức của mình. Nay Chúa công mới vào cung điện nhà Tần, liền ham thích cái vui đó thì có khác chi người ta nói "nối giáo cho giặc". Vả chăng lời nói thẳng nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm, thuốc đắng uống khó chịu nhưng chữa được bệnh. Xin Chúa công nên nghe theo lời của Phàn Khoái.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Bấy giờ Bái Công mới nghe theo, niêm phong kho tàng của nhà Tần, rồi kéo quân ra đóng ở Bái Thượng.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>HạngVõ kéo quân đến Hàm Dương sau Bái Công, cho quân vào đốt phá cung điện của nhà Tần, giết chết Tử Anh, tịch thâu của cải, rồi tự xưng là Sở Bá Vương, phong cho Bái Công Lưu Bang là Hán Vương cai trị đất Ba Thục. Năm ấy là năm 206 trước Tây lịch, được kể là năm thứ nhứt của nhà Hán.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Hán Vương vì yếu thế hơn Hạng Võ nên phải tuân lịnh của Hạng Võ, kéo binh vào đất Ba Thục, rồi theo mưu kế của Trương Lương, Bái Công cho đốt con đường sạn đạo (con đường độc nhất đi vào Ba Thục) để cho Sở Bá Vương tin rằng Hán Vương an phận nơi đất Thục, không muốn tranh đoạt thiên hạ với Sở Bá Vương.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi đốt xong sạn đạo, Trương Lương từ giã Hán Vương Lưu Bang để lo việc nước Hàn và tìm người giúp Hán Vương đánh Hạng Võ, thâu phục thiên hạ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi đến huyện Bửu Kê thì gặp được người nhà của Hạng Bá, cho biết Hạng Võ đã giết chết Hàn Vương của nước Hàn vì giận Trương Lương theo Lưu Bang bày kế đánh Hạng Võ. Trương Lương thất kinh, liền cải trang y phục, lo việc tống táng Hàn Vương, rồi giả làm đạo sĩ, đến kinh đô Hàm Dương, là nơi Hạng Võ đóng đại binh. Trương Lương dạy con nít ở đây hát bài đồng dao nói là Thần nhân dạy hát, để Hạng Võ nghe được thì bỏ Hàm Dương, về đóng đô ở Bành Thành, là nơi cố quán của Hạng Võ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương biết Hàn Tín là người có kỳ tài nhưng chưa gặp thời, nên tìm đến gặp Hàn Tín, tặng Hàn Tín cây Nguyên Nhung kiếm, viết thơ tiến cử Hàn Tín cho Hán Vương dùng làm Phá Sở Đại Nguyên Soái, rồi trao cho Hàn Tín bản đồ vẽ con đường tắt Trần Thương đi vào Ba Thục.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi Hán Vương phong Hàn Tín làm Phá Sở Đại Nguyên Soái, kéo binh đánh lấy Tam Tần, thì Trương Lương dự bị xong các việc, nên trở lại làm Quân Sư cho Hán Vương.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Bên ngoài cầm quân thì có Hàn Tín, còn mưu kế bên trong thì có Trương Lương, nên quân của Hán Vương đại thắng, dồn Sở Bá Vương chạy về thành Cai Hạ, nhưng binh sĩ của Hạng Võ cũng còn khá đông, lực lượng còn khá mạnh.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương dụng mưu, lên ngọn Kê Minh sơn, vào lúc đêm khuya thanh vắng, thổi lên khúc tiêu sầu ai oán, khiến cho 8 ngàn đệ tử của Hạng Võ mất hết tinh thần chiến đấu, bỏ trốn về quê. Thanh thế của Hạng Võ trở nên rất yếu. Sau cùng Hạng Võ bị thất thủ thành Cai Hạ, chạy ra bến sông Ô Giang, tự cắt đầu tự tử.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Diệt Hạng Võ xong, Hán Vương Lưu Bang thâu phục thiên hạ, lên ngôi Hoàng Đế, hiệu là Hán Cao Tổ, mở ra nhà Hán. Hán Cao Tổ nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Bàn mưu kế ở trong màn trướng, quyết định việc thắng bại ở ngoài ngàn dặm, đó là công của Tử Phòng. Nay phong Tử Phong ba vạn hộ ở đất Tề, cho Tử Phòng tự chọn lấy.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Xưa kia, thần khởi nghĩa ở Hạ Bì, tới đất Lưu thì gặp Bệ hạ, đó là Trời đem thần giao cho Bệ hạ. Nay thần xin được phong ở đất Lưu là đủ rồi, không dám nhận ba vạn hộ ở Tề.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Hán Cao Tổ bèn phong Trương Lương làm Lưu Hầu ở đất Lưu.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương thường hay cáo bịnh để khỏi tham dự vào việc triều chánh. Trương Lương thường nói: Gia đình tôi năm đời làm Tướng Quốc nước Hàn. Khi nước Hàn mất, tôi chẳng tiếc số tiền vạn lạng để tìm cách giết Tần Thủy Hoàng báo thù cho nước Hàn, nhưng không thành công. Nay tôi dùng ba tấc lưỡi làm thầy bậc Đế Vương, được phong vạn hộ, ở ngôi chư Hầu. Kẻ sĩ được như thế là tột bực, đối với Lương thế là đủ lắm rồi. Vậy xin bỏ việc nhân gian, chỉ muốn đi ngao du theo Huỳnh Thạch Công và Xích Tùng Tử mà thôi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Thế rồi Trương Lương theo Đạo Tiên, học lối đạo dẫn (nhịn ăn cơm lần lần cho nhẹ mình), tồn tâm dưỡng tánh, không thiết tha đến công danh phú quí nữa.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Đúng như lời Cụ già đã nói với Trương Lương ở cầu Hạ Bì 10 năm về trước, Trương Lương tìm thấy cục đá màu vàng ở chân núi Cốc Thành, cung kính đem cục đá ấy về thờ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Tám năm sau ngày Trương Lương được phong Hầu, Trương Lương mất, được đặt tên thụy là Văn Thành Hầu. Con của Trương Lương là Trương Bất Nghi đem táng Trương Lương cùng với viên đá vàng.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Cuộc đời của Trương Lương có 3 việc đáng ca tụng:</FONT></P>
<P =THAN1><I><B><FONT color=#ff00ff>1. Cắp chùY Bát Lãng:</FONT></B></I></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương tìm được dũng sĩ họ Lê, sử dụng cặp chùy nặng 120 cân, núp ở bãi cát Bác Lãng, chờ Tần Thủy Hoàng đi qua, xông ra hành thích Thủy Hoàng. Việc thất bại, dũng sĩ họ Lê bị giết chết tại chỗ, Trương Lương trốn thoát, đến ẩn náo tại Hạ Bì.</FONT></P>
<P =THAN1><I><B><FONT color=#ff00ff>2. Trương Lương dâng dép 3 lần:</FONT></B></I></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương nhờ nhẫn nại dâng dép 3 lần cho Ông Tiên Huỳnh Thạch Công mà được trao sách quí. Nhờ học sách nầy mà Trương Lương làm Quân Sư cho Hán Lưu Bang.</FONT></P>
<P =THAN1><I><B><FONT color=#ff00ff>3. Công thành thân thối:</FONT></B></I></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi công danh thành đạt vinh hiển rồi thì rút lui, bảo toàn tấm thân, tìm đạo tu hành, lưu danh thiên cổ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trong lịch sử Trung Hoa, chỉ có hai vị làm được việc công thành thân thối nầy là: <I>Phạm Lãi</I> thời Đông Châu Liệt Quốc và <I>Trương Lương</I> thời nhà Hán.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff> Sau đây là bài thi của Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng:</FONT></P>
<P =THI><I><FONT color=#0000ff>Ác xế nâng cao bóng hải đường,<BR>Xa tên nhờ bởi nặng cung trương.<BR>Lòn trôn Hàn Tín nên cơ nghiệp,<BR></FONT><FONT color=#0000ff><B><FONT color=#ff0000>Dâng dép Trương Lương dựng miếu đường.<BR></FONT></B>Khương Thượng đi câu ra trí chúa,<BR>Văn Vương ngồi ngục mới đồ vương.<BR>Trượng phu phải mặt không nao chí,<BR>Xung đột quyết hơn chốn chiến trường.</FONT></I></P>
<P =THI><EM><FONT color=#ff00ff>( Trích Cao Đài Từ Điển của cố hiền huynh Đức Nguyên ) </FONT></EM></P>
<P =THI><FONT color=#0000ff> Đức Ngài Nguyễn Công Trứ cũng có cảm tác một bài nói về Trương Lương với nhan đề là Vịnh Trương Lưu Hầu như sau , xin mạn phép chép ra :</FONT></P>
<P =THI><FONT color=#0000ff> Thi : VỊNH TRƯƠNG LƯU HẦU </FONT></P>
<P =THI><FONT color=#0000ff>Năm năm uốn lưỡi trong màn, <BR>Một mình ơn Hán, nợ Hàn giả xong, <BR>Trương Lưu Hầu là Hàn công tử, <BR>Dõi năm đời chung đỉnh đai cân. <BR>Liều một dùi chưa giả nợ cố quân, <BR>Uốn ba tất lấy thân thờ Hán chúa. <BR>Thuốc độc phun Tần lây đến Sở, <BR>Mùi thơm ngậm Hán trún (phả) cho Hàn. <BR>Trong năm năm gây một mối giang san, <BR>Đền nợ trước ơn sau đều vẹn xóng. <BR>Tràng phú quí xem bằng mây mỏng, <BR>Túi Xích Tùng riêng đủng đỉnh mái Thanh Sơn. <BR>Nhục vinh gác chuyện <SPAN =popup_comment id=id0d47490a069a32f37a48c05ab817b726 Old_="null" Old_="null" PopupIndex="2">Tiêu, Hàn </SPAN></FONT></P>
<P =THI><SPAN =popup_comment Old_="null" Old_="null" PopupIndex="2"><FONT color=#0000ff>Đôi lời sưu tập trình đăng , xin kính kiếu !</FONT></SPAN></P>
<P =THI><SPAN =popup_comment Old_="null" Old_="null" PopupIndex="2"></SPAN> </P>
<P =THI><SPAN =popup_comment Old_="null" Old_="null" PopupIndex="2"><FONT color=#0000ff> </FONT></SPAN></P></FONT>
<P><FONT size=3><FONT color=#0000ff> Trương Lương, họ Trương tên Lương, tự là Tử Phòng, người nước Hàn. Tổ tiên 5 đời của Trương Lương đều làm quan Tướng Quốc nước Hàn. Cha tên là Bình, làm Tướng Quốc cho vua Hàn là Ly Vương và Điệu Huệ Vương. Khi cha chết, Trương Lương còn ít tuổi nên chưa được tập ấm làm quan.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi nước Hàn bị Tần Thủy Hoàng đánh tan, sáp nhập vào nước Tần, lúc đó Trương Lương có 300 tôi tớ trong nhà.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Em của Lương chết, Lương không lo chôn cất, mà lo bán tất cả gia tài, giải tán các tôi tớ, dùng tiền đi tìm một người làm thích khách để giết vua Tần, báo thù cho nước Hàn.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương thường học lễ ở Hoài Dương, đi về đông yết kiến một vị ẩn sĩ tên là Thương Hải Quân, tìm được một dũng sĩ họ Lê, thường gọi là Trưng Hải Công, xử dụng một đôi chùy nặng 120 cân.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi hay tin Tần Thủy Hoàng đi chơi qua miền đông, Trương Lương cùng với dũng sĩ rình núp ở bãi cát Bác Lãng, chờ khi xe của Tần Thủy Hoàng đi qua thì xông ra đánh, nhưng lại đánh nhầm xe của bọn tùy tùng. Tần Thủy Hoàng nổi giận, giết chết dũng sĩ họ Lê, rồi cho lịnh truy lùng bắt cho kỳ được Trương Lương.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Lương phải đổi tên họ, cải dạng, trốn tránh ở Hạ Bì.</FONT></P>
<P =THAN style="TEXT-ALIGN: center"><B><FONT color=#ff00ff size=4>Trương Lương dâng dép 3 lần:</FONT></B></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Một hôm, Trương Lương ra cầu Hạ Bì ngồi chơi, gặp một cụ già mặc áo cộc, cốt cách phương phi, đi ngang qua cầu, bỗng làm rớt chiếc dép xuống cầu. Cụ quay lại thấy Lương ngồi đó thì bảo rằng:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Thằng bé, xuống cầu lượm dép giùm ta.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Lương ngạc nhiên muốn cự lại, nhưng thấy cụ già cả nên cố nhịn, lội xuống dạ cầu lượm chiếc dép đem lên cho cụ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Ông cụ lại bảo: - Xỏ vào chân ta.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Lương đã trót lấy dép lên nên luôn tiện ngồi xuống xỏ dép vào chân của cụ. Cụ già mang dép xong, cười rồi bỏ đi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Lát sau cụ quay lại cầu, loay quay thế nào lại rớt dép lần nữa. Rồi Cụ cũng biểu Lương lội xuống lượm dép cho Cụ và xỏ vào chân Cụ. Lương thấy việc nầy có vẻ lạ, nên cũng vâng lời, làm vừa lòng cụ già lần nữa.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Cụ già lại dở chưn dở tay thế nào lại làm rớt dép lần thứ ba. Lần nầy Cụ cũng biểu Lương xuống nhặt dép cho Cụ như hai lần trước. Trương Lương đã trót hai lần giúp Cụ già nên lần nầy cũng ráng giúp cụ cho trót. Cụ già mang dép vào chân xong, cười rồi bỏ đi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Một lát Cụ quay trở lại, nói với Trương Lương rằng:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Thằng bé nầy dạy được! Năm ngày sau, sáng tinh mơ, mày đến gặp ta tại đây.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương lấy làm lạ, nhưng cũng đáp: - Vâng.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Đúng 5 ngày sau, sáng tinh mơ, Trương ra cầu thì đã thấy Cụ già đã ở đó từ trước. Cụ có ý giận, nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Đã hẹn với người già cả, lại đến sau, là cớ gì?</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Cụ bỏ đi, rồi quay lại nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Năm ngày nữa ra gặp ta ở đây cho sớm.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Năm ngày sau, Trương Lương ra cầu thật sớm, vào lúc gà gáy, nhưng lại thấy Cụ già đã đến trước rồi. Cụ giận, nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Năm ngày sau, hãy ra đây cho sớm.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Đúng năm ngày sau nữa, chưa đến nửa đêm thì Trương Lương ra cầu, một lát sau thì thấy Cụ già đi tới. Cụ vui vẻ nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Thế mới phải chứ!</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Rồi Cụ trao cho Lương một quyển sách, Cụ nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Học trong quyển sách nầy thì làm thầy của bực đế vương. Mười năm sau sẽ ứng nghiệm. Mười ba năm sau con sẽ đến gặp ta, hòn đá màu vàng dưới chơn núi Cốc Thành ở phía Bắc sông Tế là ta đó.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Cụ già nói xong thì đi mất.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Sáng hôm sau, Trương Lương mở sách ra xem thì đó là quyển "THÁI CÔNG BINH PHÁP". Trương Lương vô cùng mừng rỡ, ngày đêm chuyên cần nghiên cứu học tập.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Cụ già tặng sách cho Trương Lương là Ông Tiên Huỳnh Thạch Công. (Huỳnh Thạch là cục đá màu vàng).</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Nhờ công dâng dép 3 lần cho Tiên Ông nên được Tiên Ông tặng cho sách quí, học trong đó mới trở nên tài giỏi, làm thầy cho bực đế vương (tức là làm Quân Sư), bày mưu tính kế, đánh đông dẹp bắc, bình trị thiên hạ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Do đó, Tiên Nương Đoàn Thị Điểm viết trong Nữ Trung Tùng Phận bốn câu thơ nhắc lại sự tích nầy:</FONT></P>
<DIV align=right>
<TABLE style="BORDER-COLLAPSE: collapse" cellSpacing=0 cellPadding=0 width="75%">
<T>
<TR>
<TD vAlign=top align=left width="10%"><FONT color=#0000ff> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="5%"><FONT color=#0000ff> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="85%" colSpan=2><I><FONT face="Times New Roman" color=#0000ff size=3>Lựa những mặt tài tình thọ giáo,<BR>Học cho thông mối đạo quân thần.</FONT></I></TD></TR>
<TR>
<TD vAlign=top align=left width="10%"><FONT color=#0000ff size=3> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="5%"><FONT color=#0000ff size=3> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="5%"><FONT color=#0000ff size=3> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="80%"><I><FONT face="Times New Roman" color=#0000ff size=3>Trương Lương dâng dép ba lần,</FONT></I></TD></TR>
<TR>
<TD vAlign=top align=left width="10%"><FONT color=#0000ff size=3> </FONT></TD>
<TD vAlign=top align=left width="90%" colSpan=3><I><FONT face="Times New Roman" color=#0000ff size=3>Chút công ấy định Hớn Tần nên hư.</FONT></I></TD></TR></T></TABLE></DIV>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương ở Hạ Bì làm người nghĩa hiệp, Hạng Bá giết người bị tội, đến đây trốn lánh, được Lương che chở và giúp đỡ, tạo một cái nhân tốt về sau.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Mười năm sau (năm 209 tr.TL), Trần Thiệp khởi nghĩa chống lại nhà Tần, Trương Lương cũng tập hợp được hơn 200 trai tráng. Cảnh Câu ở đất Lưu tự lập làm Giả Vương nước Sở. Lương muốn theo phò, giữa đường Lương gặp Bái Công Lưu Bang. Bái Công có mấy ngàn quân đánh chiếm được đất ở phía Tây Hạ Bì. Lương bèn theo phò Bái Công.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Lương đem binh pháp của Thái Công ra trình bày với Bái Công, được Bái Công khen hay và dùng theo sách lược đó. Có lần Lương nói binh pháp cho người khác nghe thì họ tỏ ra không hiểu. Lương tự nhủ: Bái Công là người Trời chăng?</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Vì vậy, Lương nhứt định theo Bái Công, không định theo Cảnh Câu nữa.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Bái Công đến đất Tiết, yết kiến Hạng Lương. Hạng Lương lập Sở Hoài Vương lên làm vua nước Sở. Trương Lương nói với Hạng Lương:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Ngài đã lập cháu của vua Sở lên làm Sở Hoài Vương thì cũng nên lập công tử nước Hàn là Hành Dương Quân, tên là Thành, là người hiền lên làm vua nước Hàn để tăng thêm vây cánh.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Hạng Lương bằng lòng, lập Hành Dương Quân lên làm Hàn Vương.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Nhờ mưu kế của Trương Lương, Bái Công thắng quân Tần nhiều trận lớn, đến được kinh đô Hàm Dương trước Hạng Võ, vua Tần lúc bấy giờ là Tử Anh, cháu nội của Tần Thủy Hoàng, đem ấn tín ra hàng Bái Công.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Bái Công vào kinh đô nhà Tần, thấy cung điện rất xa hoa lộng lẫy, cung phi mỹ nữ hàng ngàn, vật quí nhiều vô kể, nên có ý muốn ở lại đây. Phàn Khoái can gián hết lời nhưng Bái Công không nghe. Trương Lương nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Nhà Tần làm điều vô đạo nên Chúa công mới đến được đây. Đã cốt vì thiên hạ mà giết bọn giặc tàn ác thì ta nên ở theo lối mộc mạc để tỏ cái đạo đức của mình. Nay Chúa công mới vào cung điện nhà Tần, liền ham thích cái vui đó thì có khác chi người ta nói "nối giáo cho giặc". Vả chăng lời nói thẳng nghe chướng tai nhưng có lợi cho việc làm, thuốc đắng uống khó chịu nhưng chữa được bệnh. Xin Chúa công nên nghe theo lời của Phàn Khoái.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Bấy giờ Bái Công mới nghe theo, niêm phong kho tàng của nhà Tần, rồi kéo quân ra đóng ở Bái Thượng.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>HạngVõ kéo quân đến Hàm Dương sau Bái Công, cho quân vào đốt phá cung điện của nhà Tần, giết chết Tử Anh, tịch thâu của cải, rồi tự xưng là Sở Bá Vương, phong cho Bái Công Lưu Bang là Hán Vương cai trị đất Ba Thục. Năm ấy là năm 206 trước Tây lịch, được kể là năm thứ nhứt của nhà Hán.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Hán Vương vì yếu thế hơn Hạng Võ nên phải tuân lịnh của Hạng Võ, kéo binh vào đất Ba Thục, rồi theo mưu kế của Trương Lương, Bái Công cho đốt con đường sạn đạo (con đường độc nhất đi vào Ba Thục) để cho Sở Bá Vương tin rằng Hán Vương an phận nơi đất Thục, không muốn tranh đoạt thiên hạ với Sở Bá Vương.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi đốt xong sạn đạo, Trương Lương từ giã Hán Vương Lưu Bang để lo việc nước Hàn và tìm người giúp Hán Vương đánh Hạng Võ, thâu phục thiên hạ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi đến huyện Bửu Kê thì gặp được người nhà của Hạng Bá, cho biết Hạng Võ đã giết chết Hàn Vương của nước Hàn vì giận Trương Lương theo Lưu Bang bày kế đánh Hạng Võ. Trương Lương thất kinh, liền cải trang y phục, lo việc tống táng Hàn Vương, rồi giả làm đạo sĩ, đến kinh đô Hàm Dương, là nơi Hạng Võ đóng đại binh. Trương Lương dạy con nít ở đây hát bài đồng dao nói là Thần nhân dạy hát, để Hạng Võ nghe được thì bỏ Hàm Dương, về đóng đô ở Bành Thành, là nơi cố quán của Hạng Võ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương biết Hàn Tín là người có kỳ tài nhưng chưa gặp thời, nên tìm đến gặp Hàn Tín, tặng Hàn Tín cây Nguyên Nhung kiếm, viết thơ tiến cử Hàn Tín cho Hán Vương dùng làm Phá Sở Đại Nguyên Soái, rồi trao cho Hàn Tín bản đồ vẽ con đường tắt Trần Thương đi vào Ba Thục.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi Hán Vương phong Hàn Tín làm Phá Sở Đại Nguyên Soái, kéo binh đánh lấy Tam Tần, thì Trương Lương dự bị xong các việc, nên trở lại làm Quân Sư cho Hán Vương.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Bên ngoài cầm quân thì có Hàn Tín, còn mưu kế bên trong thì có Trương Lương, nên quân của Hán Vương đại thắng, dồn Sở Bá Vương chạy về thành Cai Hạ, nhưng binh sĩ của Hạng Võ cũng còn khá đông, lực lượng còn khá mạnh.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương dụng mưu, lên ngọn Kê Minh sơn, vào lúc đêm khuya thanh vắng, thổi lên khúc tiêu sầu ai oán, khiến cho 8 ngàn đệ tử của Hạng Võ mất hết tinh thần chiến đấu, bỏ trốn về quê. Thanh thế của Hạng Võ trở nên rất yếu. Sau cùng Hạng Võ bị thất thủ thành Cai Hạ, chạy ra bến sông Ô Giang, tự cắt đầu tự tử.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Diệt Hạng Võ xong, Hán Vương Lưu Bang thâu phục thiên hạ, lên ngôi Hoàng Đế, hiệu là Hán Cao Tổ, mở ra nhà Hán. Hán Cao Tổ nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Bàn mưu kế ở trong màn trướng, quyết định việc thắng bại ở ngoài ngàn dặm, đó là công của Tử Phòng. Nay phong Tử Phong ba vạn hộ ở đất Tề, cho Tử Phòng tự chọn lấy.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương nói:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>- Xưa kia, thần khởi nghĩa ở Hạ Bì, tới đất Lưu thì gặp Bệ hạ, đó là Trời đem thần giao cho Bệ hạ. Nay thần xin được phong ở đất Lưu là đủ rồi, không dám nhận ba vạn hộ ở Tề.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Hán Cao Tổ bèn phong Trương Lương làm Lưu Hầu ở đất Lưu.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương thường hay cáo bịnh để khỏi tham dự vào việc triều chánh. Trương Lương thường nói: Gia đình tôi năm đời làm Tướng Quốc nước Hàn. Khi nước Hàn mất, tôi chẳng tiếc số tiền vạn lạng để tìm cách giết Tần Thủy Hoàng báo thù cho nước Hàn, nhưng không thành công. Nay tôi dùng ba tấc lưỡi làm thầy bậc Đế Vương, được phong vạn hộ, ở ngôi chư Hầu. Kẻ sĩ được như thế là tột bực, đối với Lương thế là đủ lắm rồi. Vậy xin bỏ việc nhân gian, chỉ muốn đi ngao du theo Huỳnh Thạch Công và Xích Tùng Tử mà thôi.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Thế rồi Trương Lương theo Đạo Tiên, học lối đạo dẫn (nhịn ăn cơm lần lần cho nhẹ mình), tồn tâm dưỡng tánh, không thiết tha đến công danh phú quí nữa.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Đúng như lời Cụ già đã nói với Trương Lương ở cầu Hạ Bì 10 năm về trước, Trương Lương tìm thấy cục đá màu vàng ở chân núi Cốc Thành, cung kính đem cục đá ấy về thờ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Tám năm sau ngày Trương Lương được phong Hầu, Trương Lương mất, được đặt tên thụy là Văn Thành Hầu. Con của Trương Lương là Trương Bất Nghi đem táng Trương Lương cùng với viên đá vàng.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Cuộc đời của Trương Lương có 3 việc đáng ca tụng:</FONT></P>
<P =THAN1><I><B><FONT color=#ff00ff>1. Cắp chùY Bát Lãng:</FONT></B></I></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương tìm được dũng sĩ họ Lê, sử dụng cặp chùy nặng 120 cân, núp ở bãi cát Bác Lãng, chờ Tần Thủy Hoàng đi qua, xông ra hành thích Thủy Hoàng. Việc thất bại, dũng sĩ họ Lê bị giết chết tại chỗ, Trương Lương trốn thoát, đến ẩn náo tại Hạ Bì.</FONT></P>
<P =THAN1><I><B><FONT color=#ff00ff>2. Trương Lương dâng dép 3 lần:</FONT></B></I></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trương Lương nhờ nhẫn nại dâng dép 3 lần cho Ông Tiên Huỳnh Thạch Công mà được trao sách quí. Nhờ học sách nầy mà Trương Lương làm Quân Sư cho Hán Lưu Bang.</FONT></P>
<P =THAN1><I><B><FONT color=#ff00ff>3. Công thành thân thối:</FONT></B></I></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Khi công danh thành đạt vinh hiển rồi thì rút lui, bảo toàn tấm thân, tìm đạo tu hành, lưu danh thiên cổ.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff>Trong lịch sử Trung Hoa, chỉ có hai vị làm được việc công thành thân thối nầy là: <I>Phạm Lãi</I> thời Đông Châu Liệt Quốc và <I>Trương Lương</I> thời nhà Hán.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#0000ff> Sau đây là bài thi của Đức Nhàn Âm Đạo Trưởng:</FONT></P>
<P =THI><I><FONT color=#0000ff>Ác xế nâng cao bóng hải đường,<BR>Xa tên nhờ bởi nặng cung trương.<BR>Lòn trôn Hàn Tín nên cơ nghiệp,<BR></FONT><FONT color=#0000ff><B><FONT color=#ff0000>Dâng dép Trương Lương dựng miếu đường.<BR></FONT></B>Khương Thượng đi câu ra trí chúa,<BR>Văn Vương ngồi ngục mới đồ vương.<BR>Trượng phu phải mặt không nao chí,<BR>Xung đột quyết hơn chốn chiến trường.</FONT></I></P>
<P =THI><EM><FONT color=#ff00ff>( Trích Cao Đài Từ Điển của cố hiền huynh Đức Nguyên ) </FONT></EM></P>
<P =THI><FONT color=#0000ff> Đức Ngài Nguyễn Công Trứ cũng có cảm tác một bài nói về Trương Lương với nhan đề là Vịnh Trương Lưu Hầu như sau , xin mạn phép chép ra :</FONT></P>
<P =THI><FONT color=#0000ff> Thi : VỊNH TRƯƠNG LƯU HẦU </FONT></P>
<P =THI><FONT color=#0000ff>Năm năm uốn lưỡi trong màn, <BR>Một mình ơn Hán, nợ Hàn giả xong, <BR>Trương Lưu Hầu là Hàn công tử, <BR>Dõi năm đời chung đỉnh đai cân. <BR>Liều một dùi chưa giả nợ cố quân, <BR>Uốn ba tất lấy thân thờ Hán chúa. <BR>Thuốc độc phun Tần lây đến Sở, <BR>Mùi thơm ngậm Hán trún (phả) cho Hàn. <BR>Trong năm năm gây một mối giang san, <BR>Đền nợ trước ơn sau đều vẹn xóng. <BR>Tràng phú quí xem bằng mây mỏng, <BR>Túi Xích Tùng riêng đủng đỉnh mái Thanh Sơn. <BR>Nhục vinh gác chuyện <SPAN =popup_comment id=id0d47490a069a32f37a48c05ab817b726 Old_="null" Old_="null" PopupIndex="2">Tiêu, Hàn </SPAN></FONT></P>
<P =THI><SPAN =popup_comment Old_="null" Old_="null" PopupIndex="2"><FONT color=#0000ff>Đôi lời sưu tập trình đăng , xin kính kiếu !</FONT></SPAN></P>
<P =THI><SPAN =popup_comment Old_="null" Old_="null" PopupIndex="2"></SPAN> </P>
<P =THI><SPAN =popup_comment Old_="null" Old_="null" PopupIndex="2"><FONT color=#0000ff> </FONT></SPAN></P></FONT>