Tìm hiểu về Tuần cửu, Ý nghĩa, cách tính tuần cửu và thực hiện cúng tuần cửu

dong tam

New member
I. A TỲ LÀ GÌ?

1. Ba nẻo chuyển luân của nhơn sanh

Chúng ta hãy tham khảo tiếp một bài Thánh Ngôn khác được Đức Chí Tôn giáng dạy vào đầu tháng chạp năm Bính Dần.

Chợ Lớn, le 10.01.1927

Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương
Chư môn đệ và chư nhu nghe:

Chim về cội, nước tách nguồn, từ xưa kiếp con người giữ thế, chẳng qua là khách đi đường, phận sự muốn cho hoàn toàn, cần phải có bền chí và khổ tâm; có bền chí mới đặng đạt phẩm vị thanh cao; có khổ tâm mới rõ tuồng đời ấm lạnh.

Lăng xăng xạo xự, mùi chung đỉnh, vẻ cân đai, rốt cuộc chẳng khác chi một giấc huỳnh lương mộng.

Mỗi bậc phẩm đều đặng một vai tuồng của Đấng cầm quyền thế giái ban cho; dầu thanh cao, dầu hèn hạ cũng phải gắng làm cho rồi trách nhậm hầu buổi chung cuộc hồn lìa cõi trần đặng đến nơi khởi hành mà phục hồi công cán.

Ai giữ trọn bậc phẩm thì đặng Tòa Nghiệt cảnh tương công chiết tội để vào địa vị cao hơn chốn địa cầu 68 nầy.

Ai chẳng vẹn trách nhậm nhơn sanh phải bị đọa vào nơi U minh địa để trả cho xong tội tình căn quả cho đến lúc trở về nẻo chánh đường ngay mà phục hồi ngôi cũ.

Bằng chẳng biết sửa mình thì luật Thiên điều chồng chập, khổ A Tỳ phải vướng muôn muôn đời đời mà đền tội ác. Bậc nhơn sanh vì đó mà phải chịu thiên niên chìm đắm vào số luân hồi; vay trả, trả vay, căn quả chẳng bao giờ tiêu đặng.
Các bậc Thần Thánh nếu chẳng biết mối Đạo là phương châm tìm nguồn trong rửa bợn tục, thì biển khổ trần nầy cũng khó mong thoát đặng.
” [Thánh Ngôn Hiệp Tuyển 1, mùng 7 tháng chạp Bính Dần (10.01.1927)]

Qua lời dạy của Thầy cho thấy, nơi địa cầu 68 này, các nhơn sanh đều có cùng một bậc phẩm.

Sau một kiếp, khi lìa cõi trần, mỗi người tùy theo mức độ thực hiện trách nhiệm vai tuồng đã nhận lãnh trước Thượng Đế mà Tòa Nghiệt Cảnh sẽ phán quyết cho đi tiếp vào một trong ba nẻo.

▪ Nẻo thứ nhứt: Ai hoàn thành vai tuồng thì tiến hóa “vào địa vị cao hơn chốn địa cầu 68 nầy.”

Tùy theo mức độ mà chơn hồn sẽ tiến hóa lên các tinh cầu nhẹ nhàng hơn hay đắc quả vị Thiêng Liêng.

▪ Nẻo thứ nhì: “Ai chẳng vẹn trách nhậm nhơn sanh phải bị đọa vào nơi U minh địa để trả cho xong tội tình căn quả cho đến lúc trở về nẻo chánh đường ngay mà phục hồi ngôi cũ.

Vậy U Minh địa là “lãnh thổ cải tạo” hay “lãnh địa phục hồi nhân phẩm”, là những quả địa cầu có mức tiến hóa thấp hơn địa cầu 68 chúng ta đang sống.

Ai không làm tròn trách nhiệm con người thì vong hồn đó sẽ chuyển luân thoái hóa xuống các địa cầu 69,70,71,72.

▪ Nẻo thứ ba: Còn những ai mang tội ác thì chịu “khổ A Tỳ phải vướng muôn muôn đời đời mà đền tội ác.”

Như thế, A Tỳ là một miền tăm tối để cho các hồn trả quả tội ác đã gây nên trong kiếp nhơn sanh.
 

dong tam

New member
2. Âm quang là tên khác của miền Âm cảnh:

Năm 1932, Đức Bát Nương giáng cơ giải thích thêm về Địa Ngục theo góc nhìn của Cao Đài giáo:

Âm quang là khí chất hỗn độn sơ khai, khi Chí Tôn chưa tạo hóa; làn âm khí ấy là Diêu Trì Cung chứa để tinh vi vạn vật (...)

Khi Chí Tôn đem dương quang ấm áp mà làm cho hóa sanh thì cái khoảnh âm quang phải thối trầm làm tinh đẩu là cơ quan sanh hóa vạn linh. Song làn âm quang ấy có giới hạn, nghĩa là nơi nào ánh linh quang của Chí Tôn chưa chiếu giám đến thì phải còn tối tăm mịt mờ, chẳng sanh chẳng hóa.

Vậy thì nơi khiếm ánh thiêng liêng là Âm quang, nghĩa là Âm cảnh hay là Địa ngục, Diêm đình của chư Thánh lúc xưa đặt hiệu. Vậy thì chính lời nhiều tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những hồn vô căn vô kiếp nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế. Nên gọi là Âm quang đặng sửa chữ Phong đô Địa phủ của mê tín gieo truyền. Chớ kỳ thật là nơi để cho các chơn hồn giải thân định trí. Ấy là một cái quan ải, các chơn hồn khi qui thiên phải đi ngang qua đó.

Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các chơn hồn. Nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người, cũng nhờ cái sợ ấy mà lo tu niệm.

Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa đôi trăm năm, tùy chơn thần thanh trược. Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy. Em biết đặng nhiều hồn còn ở lại nơi ấy trót ngàn năm chưa thoát qua cho đặng.

Thất Nương ở đó đặng dạy dỗ, nâng đỡ các chơn hồn. Dầu sa đọa luân hồi cũng có người giúp đỡ.

Nghe lại coi có phải vậy chăng
?”

Vậy nơi nhân gian gọi Địa phủ là nơi để phạt tù những hồn tội lỗi, chư Thánh khi xưa gọi là Âm cảnh hay Diêm đình thì ngày nay Cao Đài giáo gọi là miền Âm quang.

Dương gian và Âm cảnh cách biệt với nhau bởi quan ải, đó là nơi các hồn khi chết đều phải qua nơi đó để “giải thân định trí”.

Nơi đây còn được gọi với những tên khác như Trường đình hay Tịnh Tâm xá. Đến năm Giáp Tuất 1934, Đức Thất Nương giải thích thêm về Âm Quang:

Âm quang là nơi Thần Linh Học gọi là nơi Trường đình của chư hồn giải thể hay nhập thể.

Đại Từ Phụ đã định nơi ấy cho Phật gọi là "Tịnh Tâm xá" nghĩa là nơi của chư hồn đến đó đặng tịnh tâm, xét mình coi trong kiếp sanh bao nhiêu phước tội.

Vậy thì nơi ấy là nơi xét mình
."

Trong miền Âm cảnh, cửa ải đầu tiên tất cả mọi hồn chúng sanh (động vật và con người) đều phải bước qua là Nghiệt Cảnh đài.
 

dong tam

New member
3. Nghiệt Cảnh đài nơi hồn ôn tội phước

Sau khi qua quan ải vào miền Âm cảnh, nơi đầu tiên các hồn đều phải ghé vào là Nghiệt Cảnh đài. Đức Chí Tôn có nói:

Đài nghiệt cảnh là nơi rọi sáng các việc lỗi lầm, bước luân hồi sẽ dẫn vào nơi u khổ cùng sầu mà đọa đày đời đời kiếp kiếp. Ấy là buổi chung qui của khách trần đó.”

Nơi đây mỗi hồn được xem lại cuộn phim toàn bộ kiếp đời vừa qua, những kiếp trước. Quá trình gây nên tội hay phước đều hiện lại đầy đủ chi tiết. Đức Quan Âm giải thích:

Bần Nữ đến để đôi lời cho thiện nam Cát hiểu lẽ huyền vi nơi Lạc Cảnh. Mỗi chơn linh khi đã mãn căn qui hồi Thiên giới đều phải đến nơi Nghiệt Cảnh đài đặng ôn lại tội phước đã tạo nên. Khi về đến đó rồi thì một mảy gì cũng không thể giấu đặng. Bao nhiêu kiếp đều diễn ra trước mắt, rồi tự mình định lấy phận mình, chớ chẳng ai hành phạt hay thăng thưởng.

Đó là Tòa phán xét lương tâm. Ông tòa lại chính là bổn nguyên chơn linh của mình.

Vì cớ cơ thưởng phạt thiêng liêng không một ai có thể kêu rên bởi lẽ bất công hết thảy. Như vậy thì nhũ mẫu của thiện tín cũng ở trong khuôn luật ấy
.”
[Thánh Ngôn Sưu Tập III – Tây Ninh số 67. Thanh Trước Đàn 30.3 Tân Mão (05.5.1951)

Kết hợp đoạn Thánh giáo này với lời Thánh ngôn của Thầy trong Thánh ngôn Hiệp tuyển 1 đã dẫn bên trên chúng ta có thể hiểu Nghiệt Cảnh đài, là một cơ sở lưu trử thông tin của tất cả các hồn, được đặt trong Tòa Nghiệt cảnh.

Với những nhân chứng vật chứng thật, trực tiếp liên quan đến các hành vi của hồn trong kiếp sống vừa qua, mỗi vong hồn đều khẩu phục tâm phục trước phán xét “tương công chiếc tội”của Tòa Nghiệt cảnh.
 

dong tam

New member
4. Phong đô là nơi thọ án

Với những vong tội lỗi nặng hay phạm vào những tộc ác thì bị Tòa Nghiệt Cảnh phán quyết đọa vào Phong Đô để thọ án. Sau khi thụ án xong, vong được cho đi đầu thai trở lại.

Chúng ta hãy đọc tiếp đoạn Thánh giáo sau:

Bạch sư phụ, con là Thoại.(…)

Bạch sư phụ, làm ơn nói với “Năm Sỏi” và “Sáu Út” rằng “Kỉnh” bị án sa đọa Phong đô, nhưng nhờ công nghiệp tạo tác Tòa Thánh, Đức Chí Tôn ân xá cho chuyển kiếp luân hồi, mà chưa đi còn đương kiện ông “Chữ”.

[Phối Thánh Bùi Ái Thoại, Thánh Ngôn Sưu Tập III số30, Nguyễn Văn Hồng]

Nhiều hồn ở lại đây đôi ba trăm năm hay cả ngàn năm.

Một vấn đề đặt ra nơi đây: Phong đô và U minh là hai tên gọi khác nhau của một vùng âm cảnh hay là hai lãnh địa có chức năng hoàn toàn khác nhau?

- Nếu như U minh địa, khu vực này là phần thấp kém nhất của bốn quả địa cầu dưới cùng trong thất thập nhị địa.

Nhưng vẫn thuộc về miền địa cầu có mức độ tiến hóa thanh cao hơn! Trong khi đó, Phong đô thuộc về A tỳ là nơi hành phạt các hồn mang tội ác có thể bị giam tại đây đến cả ngàn năm, khi đối chiếu lại với đoạn Thánh ngôn của Đức Chí Tôn đã dẫn ban đầu.

- Đức U Minh Giáo chủ Địa Tạng Vương Bồ Tát quản lý toàn miền Trung giới bao gồm U Minh địa và cả A tỳ còn Phong đô chỉ là vùng âm khí nặng nề nhứt của A tỳ được cai quản bởi Đức Phong Đô Đại Đế.

Có một danh từ khác là
 

dong tam

New member
5. Ngục Nguơn Tiêu

Đây là một cơ sở tù đày khác trong miền Âm cảnh, là nơi giam giữ những hồn mắc tội ở mức độ vừa phải.

Chúng ta đọc lại đoạn Thánh ngôn của Thầy dạy tiền bối Tư Mắt lần đầu khi mới theo Cao Đài:

Mắt, nghe dạy: (...)

Ngươi làm tội chớ Cha ngươi là trung hiếu lưỡng toàn, hay thương yêu đồng chủng, mà bị tội giáo tử bất nghiêm để đến đỗi hại sanh linh đã lắm lúc nên bị tội liên can đó mà thôi. Phải ở tại ngục Nguơn Tiêu mà đợi ngươi đến. Ngươi phải ăn năn, khuyến thiện và tu tâm dưỡng tánh đặng độ nó
(…).”
[Thánh Ngôn Sưu Tập I - Tây Ninh số 12 - Nguyễn Văn Hồng.]

Vậy Nguơn Tiêu là một chỗ để giam phạt những hồn tuy có tội nhưng cũng đã biết làm nhiều việc tốt có ích cho đồng chủng, cho đời.

Chỗ này tuy vẫn thuộc A tỳ nhưng được nhẹ nhàng hơn Phong đô.
 

dong tam

New member
6. Thanh Tịnh Đại Hải là một khu vực cải tạo của A Tỳ:

Sau phán quyết của Tòa Nguyệt cảnh, vong linh người có tội được chuyển đến một khu vực khác trong cõi A Tỳ gọi là Thanh Tịnh Đại Hải.

Có thể xem nơi đây là một trường cải tạo để giáo dục cải hóa những chơn linh có tội nhưng chưa đến mức phải đưa ra tòa xử án.

Tam Kỳ Phổ Độ này, Đức Thất Nương lãnh phần cai quản việc giáo hóa nơi đây. Nếu cải tạo tốt, chơn linh sẽ được Thất Nương chuyển đến nơi khác nhẹ nhàng hơn!

Chúng ta hãy xem một thí dụ nói về sự khổ ở nơi nầy của chơn hồn một tiền bối là Lễ Sanh Chiếm ở Tây Ninh:

Thưa sư phụ, Hôm con mới chết, ôi thôi nó khổ biết chừng nào! Một nỗi bị mẹ thằng Đường nó kêu tới kêu lui, chịu đà không nỗi!

Thảm mới vừa hết thì lịnh Ngọc Hư Cung sai Như Ý Đế Quân bắt đem qua Thanh Tịnh Đại Hải Chúng.


Thưa sư phụ, ở chỗ đó khó quá! Bị bọn quỷ lồi, cô hồn gì đủ thứ nó mắng nhiếc tối ngày. Nhứt là nó chửi con là đồ làm biếng, tu gì cái đám thầy chùa mê hoặc.

Hại nỗi, mấy tay phản đạo cũng có trong đám đó, đứng làm đầu xúi giục bọn kia chửi mãi. Con chịu như vậy hoài nên muốn chết đi cho rảnh. Ngặt chết không đặng, nó hành con quá chừng!

Đương thảm khổ, con lại may gặp một bà thiệt là tử tế! Nghe nói là Thất Nương Diêu Trì Cung tới thăm rồi biểu con theo bà. Con mừng quá đi theo bà liền vì thấy bà đó oai quyền lớn lắm.

Nghe nói bà đắc lịnh Ngọc Hư Cung vì có lời tình nguyện lãnh phần cai quản Thanh Tịnh Đại Hải Chúng nầy đã từ lâu, đặng giáo hóa và độ dẫn các vong linh vì tội tình bị sa đọa vào đây. Nội Thanh Tịnh Đại Hải Chúng nầy ai cũng đều kiêng sợ. Bà dắt con đến gởi Đức Quyền Giáo Tông.

Con ở đây một thời gian chẳng đặng bao lâu thì Đức Quyền Giáo Tông kêu con nói rằng: có lệnh Ngọc Hư cho con đi phó nhậm nơi tỉnh Ninh Bình làm ông Thần tại đó. Thật cũng là may quá! Ấy là nhờ bà Thất Nương thương tình thấy con thiệt thà lại bị đám âm hồn ngạ quỷ hành hạ căn kiếp của con nên bà ra tay giúp đỡ
.”
[Hộ Pháp Đường 04.5 Bính Tý (22.6.1936)]
 

dong tam

New member
Chúng ta cũng thấy một đoạn Thánh giáo khác vào năm Ất Hợi (1935) ở Tòa Thánh Tây Ninh:

Hồ Quí Diên. Tiểu nhân xin chào chư vị đại đức. Lụy

(...) Thưa Hộ Pháp, kẻ vô phước này chỉ trông công con tu niệm mong mỏi cảnh Thiên. Nào dè bạc phận, chúng nó vô Đạo không tu gây thêm nghiệp chướng.(…)

THI
Hèn lâu mơ ước đến thăm nhau,
Thanh Tịnh bấy lâu ở ngục lao;
Giận nặng hồng trần cân Tạo Hóa,
Hờn nhiều quả kiếp số Nam Tào.
Xe hồng đổ phước ngơ tay vịn,
Cánh hạc tuôn duyên cửa đọa nhào;
May gặp ân nhân Lê Đại Đức,
Ngọc Hư cứu rỗi khỏi âm tào.

(…) Tớ có gặp Lễ Sanh Thuận ở Thanh Tịnh Đại Hải Chúng. Hôm nọ cùng tớ mới thọ lịnh Ngọc Hư đắc phong Thần vị.


Trong thời gian phải sám hối ở trại cải tạo phục hồi nhân phẩm “Thanh Tịnh Đại Hải”, chơn linh đạo hữu Hồ Quý Diên trông chờ công đức của con để mau thoát qua chốn U Đồ hầu vào cảnh Thiên. Nhưng con tuy đã nhập môn mà vẫn không lo tu lại còn gây thêm nghiệp chướng nên không giúp ích chi cho sự siêu rỗi của cha!

Sau một thời gian mắc kẹt ở đó đặng sám hối ăn năn, nhờ công đức khi xưa hành đạo phổ độ nhơn sanh nên chơn linh được Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung cứu rỗi vượt qua miền Âm cảnh để đắc phong Thần vị.

Qua hai đoạn Thánh giáo trích dẫn, chúng ta có thể hiểu Thanh Tịnh Đại Hải là trường giáo dục cải tạo nơi miền âm cảnh. Như tên gọi, đó là nơi để các hồn ăn năn sám hối tội xưa đồng thời tập cho tâm được thanh tịnh.

Với những đạo hữu trong Tam Kỳ, công đức đã gầy dựng trong kiếp sống được khoanh vùng chờ đợi, sau khi đã trả quả xong có thể được đắc vị Thần.
 

dong tam

New member
7. Vọng Thiên đài và Vọng Thiên cung

Bài Thánh ngôn thứ hai, Đức Lý dạy ông Tư Mắt:

Thái Mục Thanh, hiền hữu muốn làm chi thì làm.

Lão đã thông cùng Ðịa Tạng Vương, người nói rằng: Phải đem vào Vọng Thiên đài, mà đợi một năm nữa, người cho tái kiếp lên Lục Thập Nhứt địa nghe à
...”

Vậy nơi cõi A Tỳ còn có ngục Nguơn Tiêu, nơi giam những vong mắc tội liên can chứ không phải là tội nhân chánh. Nơi đây có những cơ sở nhánh mang tên là Vọng Thiên đài hay Vọng Thiên Cung là nơi lưu giữ những chơn hồn sau khi trả quả xong sẽ được tiến hóa.

Tùy theo công đức của con cháu mà vong sẽ được đi đầu thai vượt lên vào những quả địa cầu nhẹ nhàng hơn như trường hợp cha ông Tư Mắt được giữ tại “Vọng Thiên đài” hay được siêu thăng thượng cảnh như trường hợp của mẹ Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu thì ở “Vọng Thiên Cung”.

Con Trung, con viết một lá sớ như vầy:

“Lịnh Ngọc Hoàng Thượng Đế Viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát hứa dữ Địa Tạng Vương Bồ Tát khả thâu chơn hồn thị… tử… nhựt… ngọat… niên, giam tại Vọng Thiên Cung. Chờ công quả Hậu mà thăng lần lên
.”
 

dong tam

New member
II. CHÚNG TA CẦN LÀM GÌ và LÀM THẾ NÀO ĐỂ CÓ THỂ CỨU ĐỘ VONG THOÁT A TỲ?

Trong Đại Thừa Chơn Giáo, Thầy có dạy:

Các con ôi! ... trong vũ trụ này có biết bao nhiêu là trái địa cầu, những trái thanh thì vượt nổi lên trên mà hưởng lấy khí dương rất đổi nhẹ nhàng sáng suốt, còn những trái trọng trược thì lặn chìm xuống dưới mà lấy khí âm rất nên đen tối U minh.

Vậy nếu các con, hoặc đã phạm tội với Trời, hoặc mang đại ác với người, thì linh hồn phải bị đọa xuống nơi mấy trái địa cầu mà âm khí nặng nề khốn nạn ấy để chịu buồn rầu, khổ cực, nhức nhối tâm hồn, xốn xang trí não. Đó là quả nhơn, nghiệp chướng, oan gia của các con đã tạo gieo, nó theo các con mà hành phạt lấy các con, chớ không có cưa xẽ trừng trị như theo người ta hiểu lầm, thường gọi là Thập Điện Diêm Vương đâu!

Nhưng cõi ấy, linh hồn nào phải rủi ro bị đọa lạc vào thì càng ngày càng thêm mê muội, tối tâm mãi mãi. Ôi! Khốn khổ biết bao! Thầy khó tả ra cho hết những sự đọa đày trả quả của các linh hồn phạm tội phải cam chịu trong mấy cõi ấy. Cõi ấy là chi? Là cõi Diêm Phù, mà bên Phật đạo thường gọi là Âm ty hay miền Địa ngục
.”
[Đức Chí Tôn, Đại Thừa Chơn Giáo, ngày 23 tháng 9 Bính Tý (1936)]

Vậy để có thể thoát ra chỗ buồn rầu, khổ cực đó

1. Bản thân chơn hồn phải xét mình, ăn năn tự hối:

Năm 1934, Đức Thất Nương giải thích thêm về Âm quang và hướng dẫn cách để tránh khỏi nơi này:

Chớ chi cả nhơn sanh biết xét mình trước khi thoát xác thì tự nhiên tránh khỏi Âm quang.

Nói cho cùng nếu trọn kiếp, dầu gây lắm tội tình, mà phút chót biết ăn năn tự hối cầu khẩn Chí Tôn độ rỗi, thì cũng lánh xa khỏi cửa Âm quang lại còn hưởng đặng nhiều ân huệ của Chí Tôn.

(Đó) Là các chơn hồn đặng tự hối hay là đặng giáo hóa mà hiểu trọn chơn truyền lập phương tự độ, hay là con cái của các chơn hồn cầu rỗi.

Ôi! Tuy hồng ân của Đại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đọa hằng hà, mỗi ngày xem chẳng ngớt, là tại thiếu kém đức tin và lòng trông cậy nơi Thầy. Đó là mấy đạo hữu bị thất thệ. Em trông thấy bắt đau lòng, phái nữ lại là phần đông hơn hết
."

Theo Lý Đạo căn bản, mỗi chơn hồn phải tự chịu trách nhiệm chánh về bước đường tiến hóa của bản thân, còn sự phụ trợ của thân nhân chỉ là phần thứ yếu. Vấn đề cứu độ Cửu Huyền cũng không ngoài qui luật.

Nhưng việc cứu độ vong linh thân nhân để thoát khỏi A Tỳ không phải là việc dễ dàng. Nguyên lý “tự hối” không thay đổi. Tuy nhiên vì sự hiểu Đạo lý của vong mắc đọa quá hạn chế cho, một phần do căn trí phần khác do còn thiếu duyên học Đạo, nên ý thức cầu tiến còn thấp và cái tâm ích kỷ vẫn đeo mang.

Như tích bà Thanh Đề khi được Đức Mục Kiền Liên dâng chén cơm, một tay bốc cơm còn tay kia che chén lại với tư tưởng sợ các ma đói khác trông thấy xin được chia sẻ! Vì thế khi cơm đưa tới miệng thì hóa ra than hồng!

Chính vì thế, tuy đang thụ án chịu đau khổ nặng nề nhưng cũng không có gì bảo đảm rằng các vong linh sẽ tự ăn năn sám hối nếu không có sự giáo hóa!

Việc thân nhân và bổn đạo hợp tâm cầu nguyện:

a. Nhờ tác dụng của bài kinh Cầu Siêu, xin các Đấng độ dẫn vong linh được ra khỏi ngục tù âm cảnh để trở lại dương thế hưởng trai đàn thí thực và nghe kinh, v.v...

b. Lời khẩn nguyện thành tâm có tác dụng như lời khuyên nhủ, có nhiều người khuyên thì lực tác động đến tâm hồn của vong chắc chắn hiệu quả hơn.

c. Công đức có được từ việc làm âm chất và sự bồi công lập đức hồi hướng đến vong linh thân quyến cũng góp phần làm giảm nghiệp tiền khiên oan trái của Cửu huyền Thất tổ.
Đây là kết quả của sự tỉnh thức, tự giác rồi giác ngộ tha nhân của những ai “hữu duyên hạnh ngộ Cao Đài”. Nếu người tín hữu còn chưa đủ công đức để siêu rỗi được cho chính bản thân mình thì làm sao giúp được Cửu huyền Thất tổ siêu rổi! Vì thế chúng ta phải
 

dong tam

New member
2. Thường tụng kinh Cầu siêu, Di Lạc và làm âm chất:

Nghiệt Cảnh đài còn được gọi với một tên khác là Tịnh Tâm Xá, là nơi lưu cư để thanh tịnh tâm hồn. Thiêng Liêng giải thích danh từ này qua đàn sau:

ĐẠI mừng các bạn và các chị.

(…), Cát muốn độ nhũ mẫu, phải không?

Cát bạch: - Dạ phải, (...)

- Bà ở Nghiệt Cảnh Đài. Chỉ có một phương là cầu nguyện Đức Quan Âm thì mới yên phận và cho một lá sớ hữu hình. Và ông Cát cần lập âm chất nơi thế (gian) mà để tên bà, rồi mới đốt thì hiệu nghiệm. Còn phần vô vi thì Đại độ dẫn giùm, vì bà lúc sanh tiền chịu bao điều vay trả nên nay phải cam hận. Thôi, bấy nhiêu, Đại xin kiếu. Thăng.

Tái cầu:

... Bần Nữ xin chào chư thiện tín.

THI:
Quan môn rạng chiếu bóng cờ Nam,
Âm đức giồi trau rửa thế phàm;
Bồ liễu dầu cho sương khói đọng,
Tát khô khổ hải cũng thành nam.

(…) Bần Nữ vì cảm thương lòng thành kính của thiện tín mà chỉ dẫn cho đôi điều. Từ đây, thiện tín khá luôn luôn tụng Di Lạc Chơn Kinh cho người, phải luôn tụng Cầu Siêu và Cầu Hồn đặng rửa bớt sự nặng nề cho vong linh. Còn âm chất thì càng nhiều lại càng hay. Phương độ rỗi ấy là nhờ nơi lòng hiếu nghĩa của thiện tín mà làm giảm bớt phần nghiệt chướng nơi cõi thiêng liêng cho nhũ mẫu của thiện tín. Nhưng thiện tín cũng nên biết rằng, khi đã độ rỗi được vong linh kẻ tội lỗi thì âm chất của thiện tín cũng đã sang bớt cho vong linh ấy chút ít rồi. Như vậy, thiện tín cần phải lập công đức thêm đặng đền bù vào chỗ đã mất. Đó là chỉ nói về sự độ rỗi vong linh của kẻ thân thuộc mà thôi.

Chí Thiện Mậu bạch : - (...)

- Phương độ rỗi chắc chắn hơn hết là người sanh tiền phải luôn luôn thành tâm cầu nguyện và giữ vững đức tin, bồi bổ thêm công đức. Thân mẫu của thiện tín đã qua khỏi Ngân Kiều rồi. Chư thiện khá lưu tâm mà giữ cho tròn âm đức nghe. Bần Nữ kiếu. Thăng
.”
[Thánh Ngôn Sưu Tập III – Tây Ninh số 67. Thanh Trước Đàn 30.3 Tân Mão (05.5.1951).]
 

dong tam

New member
- Ghi tên thân nhân vào sớ cầu siêu

Qua đoạn Thánh giáo trên, chúng ta thấy chơn linh vị tiền bối tên Đại đã chỉ dạy “cho một lá sớ hữu hình... mà để tên bà, rồi mới đốt thì hiệu nghiệm”.

Việc có thực hiện lá sớ để cầu nguyện cho một người là điều hết sức cần thiết trong tinh thần cảm ứng giữa hai cõi sắc không. Chúng ta nhớ lại trường hợp của mẹ Ngài Nguyễn Trung Hậu, Đức Chí Tôn cũng có dạy làm một lá sớ rồi bảo: “Đưa cho Tắc câu chú, nó đọc mà đốt sớ.”

Trong trường hợp cầu nguyện cho tập thể âm nhơn, như trong dịp mùa Trung Nguơn, việc ghi tên thân nhân của tín hữu Cao Đài vào danh sách để kịp trình lên Thầy lại càng cần thiết hơn.

Rằm tháng bảy đến kỳ phóng xá;
Trước điện vàng phục tạ Thiêng liêng,
Cháu con lòng phải kiền thiền.
Khẩn cầu may đặng tội liền giảm khinh
(...)”

Việc ghi danh này y như có một danh sách ưu tiên được đệ trình trong thời gian Trung Nguơn xá tội thì công việc sẽ được mau lẹ. Vì thế Thầy có dạy:

Tiên linh được thượng biểu chương lên Thầy có chữ ân trên ấy tức là Thầy ban thì công việc thi hành sẽ được mau lẹ. Con nên hiểu.”
 

dong tam

New member
- Nhập môn vô vi

Việc để bài vị ở chùa thất và ghi tên thân nhân để được nhập môn vô vi vào Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là phương cách hữu hiệu giúp cho vong linh sớm được siêu thoát! Về việc này, Thánh giáo có dạy:

Có những đám tang hoặc làm tuần cầu siêu, tuy gia chủ không có Đạo Cao Đài nhưng họ đến thỉnh Ban Lễ đến hành sự để vong linh thân nhân quá cố nhờ sự tinh nghiêm chay lạt của Đồng Nhi Lễ Sĩ. Trên nguyên tắc, nếu họ muốn nhờ giúp đỡ để vong linh thật sự siêu rỗi phải theo đúng điều kiện là nhập môn vô vi cho linh hồn người quá cố. Gia chủ cũng phải làm lễ nhập môn.”

Một thí dụ về việc nhập môn vô vi của vong Lý Vạn Dũ:

Cùng Chánh con tạm làm bài vị của cha để nơi tiền giác Thanh Tịnh này cho cha mộ triêu hầu nghe kinh mau siêu thoát. Vì nơi gia thất bất tịnh, khó nổi cho linh hồn hoạt bát kệ kinh. Con khá hiểu mà giúp cha. Ấy là con trả hiếu cho phụ thân, là rể thảo đó vậy.”

Huỳnh kỳ phưởng phất cõi Đông dương,
Đức cả truyền ban độ thế thường;
Đế lập cơ thiên vui chủng loại,
Quân thần hạnh hưởng được thanh bường.

(…) Thần báo tin có Từ Phụ giá lâm để chứng cho linh căn của Lý Vạn Dũ nhập môn. Vậy chư Thiên mạng nam nữ cúc cung triều nghinh Thánh giá. Ngã hộ đàn xin lui.

Tiếp điển:
Huyền diệu Thầy trao buổi mạt đời,
Thiên ân cứu thế cả năm nơi;
Thượng hòa hạ mục con ghi nhớ,
Đế chuyển quy nguyên chẳng đổi dời.

(…) Luôn đây Thầy chứng cho Dũ được nhập môn, để ảnh hưởng theo cảnh vô hình rồi sẽ được đắc vị.
(…)”

Như vậy, các Đạo hữu cần cùng một lúc thực hiện các việc như: nhập môn vô vi cho thân nhân nếu như lúc sống chư vị chưa có duyên gặp Đạo, nên để bài vị trong Thánh thất để vong được liên tục nghe kinh.

Ít nhất chúng ta phải làm những việc vừa nêu trên và ghi danh vào sớ nguyện cầu cho kịp mỗi dịp vào mùa Trung Nguơn xá tội. Đồng thời vừa ráng làm âm chất, làm công quả nhiều hơn với ý thức đúng mức về giá trị cứu độ của Tam Kỳ Phổ Độ để hồi hướng đến Cửu huyền Thất tổ.

Chư chúng sanh nghe: Từ trước Ta giáng sanh lập Phật Giáo gần sáu ngàn năm thì Phật đạo chánh truyền gần thay đổi.

Ta hằng nghe chúng sanh nói Phật giả vô ngôn. Nay nhứt định lấy huyền diệu mà giáo đạo, chớ không giáng sanh nữa, đặng chuyển Phật Giáo lại cho hoàn toàn dường nầy.

Từ đây chư chúng sanh chẳng tu bị đọa A Tỳ, thì hết lời nói rằng: "Phật Tông vô giáo", mà chối tội nữa. Ta nói cho chúng sanh biết rằng: Gặp Tam kỳ Phổ độ nầy mà không tu, thì không còn trông mong siêu rỗi
.”
 
Sửa lần cuối:

dong tam

New member
3. Thân nhân phải lập công bồi đức hồi hướng

Chúng ta xem tiếp một đoạn Thánh giáo xưa, năm Quý Dậu (1933), Đức Chí Tôn dạy và ân ban cho gia quyến một số quý vị tu theo Chiếu Minh.

Ngọc Hoàng Thượng Đế tá danh Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương.

Huờn quì trước. Ngọc, Phấn, Chi, Thiên quì sau.

Các con có lòng thành cầu nguyện nên Thầy cho vong Nguyễn Văn Chức là chồng và cha các con nhập cơ (...)

Nguyễn Văn Chức. Em chào chư Thiên mạng.

Anh chào hiền muội. Cha chào các con.

Nghe cha phân: Các con mờ muội giữa chốn trần gian. Tám năm nay Trời mở Đạo cứu vớt nguyên nhơn mà các con mờ ám, mê trần, còn tham hữu hình nên các con chưa biết Đạo là gì cả.

Đã ba phen cha có cho các con biết cha bị đọa nơi chốn A Tỳ, cầu các con tu đặng độ cha mà các con mơ mơ màng màng.

Các con ôi! Đời là biển khổ. Các con đương lặn hụp nơi biển trần vơi mà các con hữu phước hữu duyên gặp Tam Kỳ Phổ Độ cứu vớt chúng sanh. Sao các con mê muội đến dường ấy?


Trời mở đạo cứu vớt nguyên nhơn” và “Hữu duyên hạnh ngộ Cao Đài” được hưởng Đại Ân Xá Kỳ Ba.

Công đức phổ độ chúng sanh được ghi công quả bội phần nhờ đó mà có thể cứu độ được vong linh Cửu huyền Thất tổ đang bị đoạ chốn A Tỳ. Đã là tín đồ Cao Đài mà không ý thức được điều quan trọng này thì quả là còn “mê muội đến dường ấy?

Tuy nhiên, thực tế hành đạo cho chúng ta thấy quả thật còn nhiều đạo hữu chưa “giác ngộ” điểm mấu chốt này nên vẫn còn tu theo kiểu tài tử.
 

dong tam

New member
III. KẾT LUẬN

Tóm lại, theo giáo lý Cao Đài: A Tỳ là vùng Âm quang nơi thiếu ánh dương quang của Đức Chí Tôn.

Các chơn hồn sau khi thoát xác đều phải đi qua quan ải phân ranh giữa dương gian và âm cảnh. Nơi trước tiên mỗi chơn hồn đều phải đến là Nghiệt Cảnh đài, Tịnh Tâm xá, được xem lại toàn bộ kiếp sống vừa qua, tội phước thế nào, để hoàn toàn tâm phục khi nhận phán quyết từ Tòa Nghiệt cảnh kết quả thăng, đọa hay luân hồi chuyển thế.

▪ Nếu tội vừa vừa thì bị giáng xuống vùng U Minh địa để tự ăn năn sám hối, cải sửa bản thân.
▪ Còn tội nặng phải đọa A tỳ.
Trong A tỳ có Âm ty được chia làm nhiều khu vực có cấp độ khác nhau hoặc giam giữ hoặc cải tạo hay giáo hóa những vong đang tự thọ án. Những chỗ có tên gọi như Phong đô, Nguơn tiêu, v.v… là nơi thi hành án phạt tù hay cải tạo tội nhân trong miền Âm quang.
▪ Với những vong đã bồi công lập đức sâu dầy tuy vẫn phải thọ hình trả nợ do lỗi nặng đã tạo ra trong kiếp vừa qua nhưng luật đại ân xá trong Tam Kỳ cho phép các chơn hồn này được khoanh nợ không cấn trừ.

Phần công đức đã tạo sẽ giúp cho chơn linh tiến hóa siêu thăng vào Thượng giới tiếp tục tu tiến. Khi đó các chơn hồn này rất cần đến công đức của gia quyến hồi hướng và độ kinh để được rút ngắn thời gian cải tạo. Thanh Tịnh Đại Hải, Trường Đình, Vọng Thiên đài, Vọng Thiên cung, v.v… là nơi các chơn hồn được lưu cư thanh tịnh chơn tâm chờ đợi công đức của con cháu rồi đi tiến hóa.

Người đạo hữu cần lưu ý, một khi cứu độ cho Cửu huyền Thất tổ của mình thì âm chất bị hao hụt. Vì vậy phải thường xuyên bồi công lập đức thêm bằng cách lo tu học hành đạo độ dẫn nhơn sanh với tinh thần thuần chơn không nệ hà việc to hay nhỏ.

Vậy, qua Thánh Ngôn - Thánh Giáo vừa trích dẫn, chúng ta thấy quan niệm về Địa ngục của Cao Đài giáo có khác với những quan niệm trước kia.

- A tỳ - Địa ngục hay Phong đô – Địa phủ không còn được giải thích như là nơi chốn chỉ thực hiện việc hành phạt các vong hồn phạm nhiều tội lỗi ở chốn thế gian. Mà được giải thích đó là chốn để các vong hồn tĩnh tâm ôn lại các hành động, lời nói, suy nghĩ trong kiếp đã qua.

Chính sự ăn năn sám hối ray rức hối tiếc trước những tội lỗi đã qua của vong linh làm cho tâm hồn xốn xang đau khổ y như đang bị thọ hình tra khảo! Tùy theo mức độ sám hối nhiều hay ít mà vong có mau chóng hay chưa thoát khỏi A tỳ. Điều này phụ thuộc vào việc nghe kinh và các hình thức siêu độ khác.

- Một điểm khác nữa là, nhờ có luật Đại ân xá trong Tam kỳ, những vong linh đạo hữu hay Cửu huyền sau thời gian thọ án ở A tỳ thay vì phải luân hồi trở lại thế gian nhưng được đại xá tiến lên cõi thượng tu tiến rồi sau sẽ đắc vị. Nhiều câu chuyện về những trường hợp này đã được ghi nhận qua các Thánh giáo trong các Hội Thánh.

- Tu để cứu Cửu huyền Thất tổ thoát khỏi A tỳ, chúng ta cũng nên suy nghĩ theo chiều hướng “phòng ngừa hơn là điều trị”. Lời tâm tình của Đức Cao Thượng Phẩm vào năm 1934 đáng để cho chúng ta suy gẫm luôn:

Hồi em còn ở thế sức giận của em đến đổi, nếu em được Thiêng Liêng vị tức cấp, thì có lẽ cây quạt của em đã đưa họ trụm vào Phong Đô không sót một ai.

Nhưng chừng bỏ xác phàm, được nhãn huệ quang rồi, em lại thương đau, thương đớn, dường như sợ cho họ sái đường lạc nẻo, thì phải mất một bạn thiêng liêng rất quí trọng vậy. Thành thử, phải dìu dắt chìu theo tâm phàm họ cao thấp mà sửa từ bước, độ từ chặng.

Mà nếu rủi dìu họ không được, thì phải tận tụy với trách nhiệm làm thế nào cho họ đừng sa đọa Phong Đô, để cầu với Tam Giáo Tòa, cho tái kiếp mà chuộc căn quả
.”

Vậy trách nhiệm đó là góp phần Phổ Độ Chúng Sanh
 

dong tam

New member
ĐỨC ĐỊA TẠNG VƯƠNG BỒ TÁT TRONG TAM KỲ PHỔ ĐỘ

NỘI DUNG

I. SỰ HIỆN DIỆN CỦA ĐỨC ĐỊA TẠNG VƯƠNG TRONG CAO ĐÀI GIÁO

II. LÝ SIÊU ĐỘ CỦA ĐỨC ĐỊA TẠNG QUA CƠ BÚT

1. Khi hấp hối
2. Vớt vong tử nạn
3. Tang lễ
4. Tinh thần Siêu Độ trong Lễ Vu Lan
4.1. Siêu Độ cho cô hồn uổng tử
4.2. Siêu Độ cho Chiến Sĩ Trận Vong
5. Tinh thần Siêu Độ trong Tam Kỳ Phổ Độ

III. KẾT LUẬN
 

dong tam

New member
I. SỰ HIỆN DIỆN CỦA ĐỨC ĐỊA TẠNG VƯƠNG TRONG CAO ĐÀI GIÁO

Thuở mới lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, vào buổi ban sơ ấy Cao Đài giáo có sử dụng một số bài kinh cúng của Phật giáo như Bát Nhã Ba La Mật Kinh,… cho nên việc cầu nguyện với chư Phật và Bồ Tát là thường xuyên.

Ngay trong năm đầu tiên – Bính Dần 1926, Đức Chí Tôn đã dạy chư vị Tiền Khai tìm thỉnh thêm kinh từ Ngũ Chi Minh Đạo. Sau khi chư vị đến Minh Lý Đạo để tham khảo, trong đàn ngày 28.6 Bính Dần (06.8.1926), Đức Thái Thượng Đạo Tổ dạy quý vị bên Minh Lý:

Chư nhu phải sắm 12 cuốn Kinh Sám Hối… cho đi mời Trung, Lịch, Kỳ lại nhà chư nhu, biểu chúng nó làm lễ mà thỉnh kinh ấy.”

Trong số các kinh này có bài do Đức Chuẩn Đề Bồ Tát giáng cơ ban cho, đoạn đầu như sau:

Đầu vọng bái Tây Phương Phật Tổ,
A Di Đà Phật độ chúng dân;
Quan Thế Âm lân mẫn ân cần,
Vớt lê thứ khổ trần đọa lạc.
Đại Thánh Địa Tạng Vương Bồ Tát,
Bố từ bi tế bạt vong hồn
.(...)

Minh Lý Đạo gọi bài kinh này là Sám Cầu Siêu. Cầu siêu có nghĩa là cầu nguyện, xin cho vong linh được siêu rỗi, thoát qua cảnh đọa đày ở chốn U Minh. Theo truyền thống của nhà Phật, Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát được xem là Đấng chánh yếu có vai trò siêu độ chúng sanh.

- Qua cơ bút Cao Đài, Đức Địa Tạng Vương được nhắc đến trong việc cầu nguyện để giúp cho vong linh được siêu thoát bắt đầu hiện diện vào ngày 28.8.1926 khi thân mẫu của Ngài Nguyễn Trung Hậu tạ thế. Lúc đó, chư Tiền Khai lập đàn cầu Thầy hỏi về cách thức cử hành tang lễ. Hôm đó Thầy dạy:

Con Trung, con viết một lá sớ như vầy:

Lịnh Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát hứa dữ Địa Tạng Vương Bồ Tát khả thâu chơn hồn thị… tử… nhựt… ngọat… niên, giam tại Vọng Thiên Cung.

Chờ công quả Hậu mà thăng lần lên
.”

Qua đây chúng ta thấy muốn cầu cho Cửu Huyền Thất Tổ được siêu thoát cần thực hiện việc đọc kinh cầu nguyện siêu độ.

Trong số những Đấng Thiêng Liêng có vai trò cứu độ vong linh thì vai trò của Đức Địa Tạng Bồ Tát rất quan trọng không thể thiếu. Thời Tam Kỳ Phổ Độ, Cao Đài giáo kế thừa và phát huy truyền thống của Tam Giáo, riêng trong việc cầu siêu độ tử kế thừa tinh hoa văn hóa Phật giáo nhất là mỗi khi vào dịp tháng 7 âm lịch hàng năm lại càng làm nổi bật hình ảnh của Đức Địa Tạng Bồ Tát.

Cũng vì thế, mỗi khi cần thực hiện nghi thức cầu siêu trong các đám tang, cúng cửu cho đạo hữu Cao Đài hay cho các đẳng cô hồn hoặc chiến sĩ trận vong, v.v... thì việc hướng về Ngài để cầu nguyện không thể nào thiếu được. Mặc dầu trong nghi thức thờ phượng của Cao Đài giáo không hề có sự hiện diện của Đức Địa Tạng Vương nhưng trong các bài kinh siêu độ danh của Ngài không thể nào thiếu vắng.
 

dong tam

New member
II. LÝ SIÊU ĐỘ CỦA ĐỨC ĐỊA TẠNG QUA CƠ BÚT

Qua cơ bút, Ơn trên đã ban cho nhiều bài kinh, danh của Đức Địa Tạng hiện diện trong những bài được tụng

1. Khi hấp hối:

Khi đạo hữu gần dứt hơi, bổn đạo Cao Đài đọc bài Lâm Chung Tỉnh Ngộ trong đó có những câu:

Miệng khô lưỡi đớ nan ngôn,
Cầu xin Địa Tạng vong hồn chở che
.”

Trong bài Cầu khi Hấp hối có câu:

Vọng Địa Tạng độ siêu đọa lạc,
Cầu Âm Tào Đông Nhạc giảm hình;
Giác linh tỉnh ngộ tiền trình,
Bớt cơn mê muội vật mình trở trăn
.

Lúc gần chung thời, trong các câu niệm có câu:

Nam Mô Thập Điện Từ Vương, thường hành bình đẳng.
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát tiếp dẫn vong hồn tảo đắc siêu thăng, bất nhập Địa phủ chi U quang. Tận độ chúng sanh bất vãng U minh giái cảnh
.”

Khi gần dứt hơi, niệm kinh có câu:

Hồn du Tiên cảnh,
Thế tục bất hoài.
Trực vãng Thiên thai,
Nam Mô Địa Tạng Vương Bồ Tát,
Tiếp dẫn Phật Đài,
Tiêu diêu khoái lạc
,”

hay trong Kinh Đưa Linh có câu:

Từ đây lìa khỏi trần gian,
Nương mây theo gió nhẹ nhàng phi thăng.
Mãn kiếp đọa trầm luân khổ hải,
Nơi ngôi xưa trở lại tiêu diêu;
Mong ơn Địa Tạng độ siêu,
Âm Tào Đông Nhạc giảm tiêu tội tình
.”
 

dong tam

New member
2. Vớt vong tử nạn:

Lời kinh có những câu:

Xin Địa Tạng Vương tề giúp sức,
Hội trai đàn nhờ Đức Ngao quân;
Cúi xin nhờ lượng thủy long,
Tha hồn chết đuối thoát vòng tai ương.
Đầu cúi lạy Diêm Vương ân xá,
Đức từ bi mau thả hồn oan;.
.. ...

3. Về Tang lễ:

Khi đưa linh cửu ra linh xa, đồng nhi và bổn đạo đọc kinh Động quan có câu:

U minh Đại Thánh từ bi,
Đức ân Địa Tạng liên trì tiếp vong
Từ Vương thập Điện rộng lòng,
Xá tha hồn đặng thoát vòng trầm luân.
Khi mở cửa mả, trong bài kinh có câu:
Ngày nay an mộ đến kỳ,
Nam mô Địa Tạng từ bi dẫn hồn;
(...) Từ đây vĩnh biệt âm cung,
Lánh nơi trần tục thung dung một mình
.

Quá trình thực hiện tang lễ theo nghi thức Cao Đài, danh của Đức Địa Tạng thường xuyên được nhắc đến. Nhưng cũng có một số tín hữu tuy đã nhập môn nhưng đức tin chưa sâu dầy nên vẫn chưa “Khai đàn, Thượng tượng thờ Thầy” tại nhà mình cũng như chưa tích cực công quả công trình... cho nên khi gia đình có tang lễ thì dễ bị chạy theo suy nghĩ mê tín trong dân gian.

- Hằng ngày trong đời sống, chúng ta thấy nhiều nhà bình thường không có thờ cúng chi cả nhưng đến khi có đám tang mới lập bàn thờ Đức Địa Tạng Vương và mời quý thầy tu về tụng kinh cầu nguyện cho người quá cố được siêu thoát.

Lại có nhà còn tổ chức “phá ngục cướp vong” rồi lập đàn cúng bái cầu U Minh Giáo Chủ siêu độ theo quan niệm của dân gian để thể hiện sự hiếu thảo của mình. Vậy thì những việc làm này có hiệu quả chi hay không?

Sách Hồi Dương Nhơn Quả trang 127 có bài "Điạ Tạng Vương Bồ Tát Giáng Bút". Nội dung như sau:

Người đời không cho con học chữ Nho nên không thông Đạo Lý. Cứ tưởng cúng chùa, dâng hương là lành. Rước sãi, thầy tu tụng kinh làm chay thì siêu độ cho vong hồn đặng! Các điều ấy có phải làm lành, làm phước đâu? Làm lành là làm phải lý, lại khuyên người làm phải thì Trời xuống phước.[tự giác, giác tha]

Ta thấy người đời ở với cha mẹ không hiếu gì, cha mẹ mãn phần thì nói:

"Sa Địa ngục rồi, phải rước sãi làm đàn siêu độ!".

Các sãi bày ra làm mị, như gởi kho vàng bạc, phá ngục, bông đầu phướn đặng tiếp dẫn vong hồn lên Tây phương. Có lẽ gì, thọc cây tre mà phá đặng địa ngục?

Nếu quả như vậy thì kẻ giàu sang làm dữ, thác rồi con rước đông sãi tụng kinh niệm Phật thì vong hồn ra khỏi địa ngục? Người hiền lành mà nghèo, không tiền rước sãi làm như vậy thì không ra khỏi ngục!

Như vậy, Trời Đất cũng vị nhà giàu mà hiếp nhà khó hay sao? Còn chư Phật ở Tây phương, công đâu mà vị nhà có tiền phải đi cứu vớt?

Tâm là Phật, tâm là Thiên đường. Lòng lành, thuận lòng Trời thì cầu vong khỏi tội. Lòng chẳng lành, làm nghịch lòng Trời thì cầu không đặng. Nếu không làm phước, cứ mỗi ngày rước thầy tụng kinh cầu siêu hoài, Phật muốn cứu cũng không thể cứu được.

Ta cũng là Phật, lẽ đâu không hiểu phép. Làm lành, tuy không cầu Phật mà Phật cũng phò hộ. Nếu làm dữ, có lạy Phật cho tới xói đầu, cầu cũng không đặng.

Ta khuyên đời nghe lời Ta, cứ theo Luật Công Quá cách, đừng làm các điều dị đoan trái lẽ, tuy chẳng cầu Ta cũng độ vong. Không cần rước sãi
.”

Qua cơ bút Cao Đài, Đức Địa Tạng Vương giáng cơ vào mùa Trung Nguơn Tân Sửu (1961) có dạy:

Có lẽ chư hiền thấy rõ người đời, mãi khi đưa xác chết lên đường lập bàn gọi Địa Tạng rước vong. Cười (…).

Nầy chư thiện tín! Ta chỉ có quyền pháp để siêu rỗi cho những vong hồn biết siêu rỗi, giải thoát cho những vong hồn có các nhân lành đặt trên đường giải thoát.

Chớ quyền pháp của Ta không phải để cướp tội một đám giải oan của người đưa Ta lên địa vị rước vong như người lầm tưởng
.” [Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát, Huờn Cung Đàn 14 rạng 15.7 Tân Sửu (24.8.1961)]

Như thế thay vì sa đà vào hình thức rần rộ để cố chứng tỏ cho đời biết sự hiếu thảo của mình với người quá cố, chúng ta những tín hữu Cao Đài một khi đã hiểu Lý của Đạo Hiếu sẽ không làm như thế.

Trái lại, những điều cần phải làm nếu muốn cho người thân mau được siêu rỗi thì trong việc tang lễ - cầu siêu, chúng ta phải thực hiện những điều mà Thế Luật điều thứ 16 và 17 trong Tân Luật qui định.
 

dong tam

New member
4. Tinh thần Siêu Độ trong Lễ Vu Lan:

- Chúng ta hãy xem lại bài giáo huấn của Đức Địa Tạng Vương về “Lý siêu rỗi” nhân ngày Trung Nguơn năm Tân Sửu (1961).
Thi
Thiết hội Vu Lan xá tội nhơn,
Tùy tùng Giáo Chủ giáng Cung Huờn;
Trung đàn nghiêm nghị phân nam nữ,
Tiếp lịnh Địa Vương dạy lý chơn.
Ngọc Điện Đồng Tử, chào chung chư Thiên ân lưỡng phái. Đàn nội trang nghiêm tiếp lịnh. Tiểu Thánh hộ đàn. Lui.
Tiếp điển: Thi
U hiển huyền vi Tạo Hóa cơ,
Minh Vương phóng xá tội Phong Đô;
Giáo truyền mặc mặc quy Chơn Đạo,
Chủ hướng tư tư quả túy khô.
Địa hậu Thiên cao năng phúc tải,
Tạng thân tướng phủ tự duyên vô;
Bồ đoàn hảo kiết thiên liên thảo,
Tát vị tầm thinh đắc vạn đồ
.

Ta chào mừng chư Thiên sắc, chư liệt vị, chào chư thiện tín. Ta miễn lễ chư Thiên sắc cùng thiện tín an tọa.

Giờ nay Ta vâng Ngọc Hư sắc triệu Tam Giáo truyền ban, Ta mượn điển quang để bày giải đôi câu đạo đức để kỷ niệm trường sanh trong kỳ Trung Nguơn xá tội.(…)
Bài
… … Khuyên nhau tâm niệm chí thành,
Cứu đời bớt nỗi cạnh tranh khốn nàn.
Ta đã nguyện trên đàng siêu thoát,
Cứu vong linh đọa lạc Phong Đô,
Huyền linh chơn pháp hư vô,
Trung Nguơn xá tội diễn phô dắt dìu.

Nhìn cảnh thế ra chiều ảm đạm,
Thấy chúng sanh ly loạn thảm thê;
Sống trong vạn cảnh não nề,
Thân sanh phải chịu lắm bề đớn đau.
Vì ham lợi chất cao tội lỗi,
Bởi tranh danh lạc lối đọa đày;
Gieo chi những giống chua cay,
Cho tê lưỡi tục cho say linh hồn.
Sanh trong cõi hàn ôn thử thấp,
Mang chi điều tranh chấp dục tư;
Vạn sinh nung giữa lò cừ,
Sương phong lớp áo bụi mờ tánh linh.
Diễn những cảnh cực hình thảm khốc,
Bày những trò cốt nhục tương tàn;
Thấy chăng địa ngục trần gian,
Vì mình tạo lấy trái oan cho mình.
Đã từng đọc thiên kinh vạn quyển,
Phải nhớ câu nhứt đán vô thường;
Chớ rằng bày vẽ phô trương,
Bạc vàng châu báu tránh đường trầm luân
…”
[Trung Nguơn năm Tân Sửu (1961)]
 

dong tam

New member
4.1. Siêu Độ cho cô hồn uổng tử

Mùa Trung Nguơn năm Tân Mão 1951, khi giáng đàn ở Thánh thất Tây Thành Cần Thơ, Đức Địa Tạng Vương có dạy:

Trung Nguơn Đại Lễ ân đức từ bi Phụ Hoàng hiệp đồng chư Phật Tiên Thánh Thần ban phép lành nơi Diêm Địa, đại phóng thích oan hồn cùng nghiệt án thì chư nam nữ nhứt trí dâng tấm lòng thành, triệu lai hồn tử sĩ với âm nhơn hưởng ứng lễ nguyện cầu.

Hơn nữa nhờ lòng đạo đức (của) chư hiền mà những oan hồn ấy nghe kinh giác ngộ đặng siêu thăng tịnh độ, hầu trở lại ngôi lành (…).

Bần Đạo khuyên chư hiền không (để) một mảy may nào do lòng trần của chư hiền bất hiệp cùng nhau thì điển lực không chung kết nhau thành ra khó mong người âm trực tiếp siêu thăng. Vì vậy cạn khuyên nhủ nhiều lần, mong chư hiền in trí gắng hành xong
.”

Lòng thành và sự hòa hiệp là những điều kiện căn bản để sự nguyện cầu cho các vong linh chưa siêu thoát mau sớm giác ngộ đặng siêu thăng tịnh độ.

Riêng với tín hữu Cao Đài và thân nhân, Đức Địa Tạng Vương ân cần dạy tiếp:

Diệu Thiện xưa thuốc thần cứu khổ,
Mục Kiền Liên tầm mẫu Phong Đô;
Nguyện thân thí pháp hư vô,
Vu Lan mở hội tam đồ thoát ly.
Vì hiếu thân đã ghi Thiên sử,
Phận làm con còn giữ tích xưa;
Trung Nguơn vén bứt rèm thưa,
Tội trong phước cả mới vừa được siêu.
Lòng chúng sanh tạo điều thiện cảm,
Lòng Trời hòa khí đạm thiên lương;
Trời, người tiếp xúc cho thường,
Lối siêu, nẻo đọa là phương dễ tầm.
Lời Ta để do tâm tất cả,
Chư hiền xem ghi dạ đinh ninh;
Muốn cho mình khỏi tội tình,
Ngục không mở cửa do mình mở thôi.
Chư hiền sống trong đời đạo đức,
Đấng Chí Tôn muôn thức chở che;
Nam Bang hạnh phúc mọi bề,
Mà dân đất Việt đường về biết chưa?
Hỏi sứ mạng trong giờ mạt pháp,
Hỏi tín đồ trong áp lực đời;
Đâu là pháp báu của Trời?
Phải chăng vì Đạo độ đời lo tu.
Kỳ xá tội công phu xây dựng,
Trung Nguơn nầy phê chuẩn phước ban;
Điển lành rưới khắp trần gian,
Cho chư thiện tín vững vàng đường tu.

Giờ lành Ta để đôi câu dạy chung chư Thiên sắc cùng chư thiện nam tín nữ, Ta ước mong chư hiền ráng trọn hành Thiên Đạo để đến ngày chung quy Thiên Tào chiếu bảng
.”

Qua lời dạy, chúng ta thấy Đức Địa Tạng khẳng định rằng Ngài “chỉ có quyền pháp để siêu rỗi cho những vong hồn biết siêu rỗi” mà thôi.

Đức Địa Tạng dạy tiếp:

Như vậy, theo luật công bình nghĩa là có tu mới siêu thăng đắc quả, bằng mến trược, tranh danh thì phải chịu kiếp luân hồi trả vay”.

Người lúc sinh tiền không có tu hành chi mà lại còn mắc phạm tội lỗi thì phải nhờ đến công đức hợp lực cầu nguyện của gia đình và các vị tu hành thì mới được Đức Địa Tạng “Cứu vong linh đọa lạc Phong Đô” thoát khỏi ngục cảnh mà được đi đầu thai, luân hồi chuyển kiếp.

Vậy việc cầu nguyện chỉ mới đáp ứng điều kiện cần nhưng vẫn chưa đáp ứng điều kiện đủ. Chúng ta nhớ lại lời kết của Thầy dạy về đám tang của mẹ Ngài Nguyễn Trung Hậu: “Chờ công quả Hậu mà thăng lần lên”. Như thế nếu chỉ đọc kinh thôi cũng chưa đủ mà phải có ý thức đến việc làm công quả âm chất để hồi hướng cho vong linh.
 

Facebook Comment

Top