Vì một giáo hội Cao Đài duy nhất

  • Người khởi tạo QuanTriVien1
  • Ngày gửi

truonghuuduyen

New member
theo đệ nghĩ, chúng ta là đạo hữu ,của nền tảng đại đạo tam kỳ phổ độ ,do hội đồng chưởng quản, tòa thánh tây ninh hiện hữu .cho nên đệ muốn nói , tất cả những việc gì dù cho là ,đạo hữu nước ngoài, hay trong nước ,cũng phải tùng lịnh thiên cơ cho nên đều phải trực thuộc tòa thánh
có như vậy đạo chúng ta mới tốt mới mạnh và là chỗ dựa tinh thần của muôn dân bằng không rơi vào tay phàm thì không sớm muộn cũng bị quấy rầy mà nền tản của chúng ta là ăn chay và tu hành cầu mong sự bình an và thanh bình cho trăm họ
trước đây năm 1977 đạo ta đã khốn đốn vô cùng rồi cho nên chúng ta là con cùng cha phải cùng nhau xây dựng nền đại đạo trong sạch ưu ái ...
đệ chỉ nói vậy thôi mong HTDM nếu có gì không phải thì bỏ qua,
nay kính
 

dong tam

New member
Kính chuyển đến quý huynh tham khảo đoạn Thánh giáo sau trong Kinh Bình Minh:

TIẾP ĐIỂN:
HUYỀN KHUNG CAO THƯỢNG ĐẾ

Thầy mừng chung các trẻ ! Các con an tọa nghe Thầy tả.

BÀI

Đạo sắc chuyển từ NIÊN GIÁP TÝ,
Máy Cơ quan Thầy chỉ cho CHIÊU;
Để đem phổ độ dắt dìu,
Cho nhơn sanh đặng bái triều Tiên Ông.
Qua BÍNH DẦN vừa xong mối Đạo,
CHIÊU, KỲ, TRUNG, SANG, THẢO, HOÀI, MINH;
Thiên Cơ chuyển vận thình lình,
TẮC, CƯ phụng sự TỔ ĐÌNH TIỀN GIANG.
Đạo sắc chuyển chưa an chơn loại,
THẦY chuyển CHIÊU lập phái CHIẾU MINH;
PHÙNG CA lãnh lịnh Thiên đình,
Lập MINH CHƠN LÝ phục bình NGŨ CHI.
Ngày Đại Đạo Tam Kỳ chưa vững,
Cơ rẽ chia kẻ đứng người đi;
TRANG, TƯƠNG thọ sắc lịnh thì,
Lập cơ CHỈNH ĐẠO kịp kỳ Hoa Long.
Đạo gặp buổi long đong gay gắt,
Hỡi này con tai mắt của Thầy;
Vận hành Cơ Đạo chuyển xây,
Nhơn sanh hấp thụ Đạo Thầy tràn lan.
THIỆU với PHÁT mãi đang toan tính,
Thấy chinh nghiêng lo chỉnh cơ quan;
Đem về nơi chốn Hậu Giang,
Lập MINH CHƠN ĐẠO có QUANG trợ vào.
Thầy nghĩ đến biết bao chua xót,
Cũng chung nhành trái ngọt trái chua;
Đem gieo hạt giống nên mùa,
Chín sau cùng trước hơn thua rộn ràng.
TÒNG, TY thấy cơ quan nguy biến,
Nhìn chúng sanh một kiểng nhiều quê;
Tính đem mối đạo gom về,
TIÊN THIÊN thành lập bốn bề phổ thông.
Vì nhơn nguyện Thiên tùng độ chúng,
Nào hay đâu tiêu chuẩn quý quyền;
Đạo Thầy vừa mới vẹn yên,
BỘ - THANH lãnh lịnh lập riêng TRUNG HÒA.
Thêm NHUẬN - RUỘNG truyền ra rẽ phái,
Thầy lụy sa nhơn loại biết bao;
TÂY TÔNG TÀI cũng đem vào,
LIÊN ĐOÀN ĐÀI GIẢN một màu BẠCH Y.
Thầy chuyển vận trường thi Nguơn hội,
Cho chúng sanh sớm tối lo toan;
CAO ĐÀI HỘI GIÁO sắc ban,
PHƯỢNG THƠM lãnh lịnh lập tràng thi công.
NƠI TỔNG HỘI QUẾ LONG nhơn nguyện,
Thiên cũng tùng nhơn chuyển ra sao ?
Qui nguyên đậm nét tô màu,
Cũng trong Đại Đạo Thiên Tào chấm công.
Thầy nhắc đến gan đồng chua xót,
Mà sao con đắng ngọt mãi chia;
Con ôi ! lớn nhỏ mau về,
Qui nguyên căn bổn đề huề như xưa.
Thầy ân xá tam thừa chế giảm,
Hỡi con ôi! lãnh đạm dứt đi;
Vẻ vang hai chữ Tam Kỳ,
Sao rằng Đại Đạo mãi thì tiểu tâm?
Đạo đã tính nhiều năm thì có,
Sự hành vi chưa rõ đầu đuôi;
Để cho con phải bùi ngùi,
Lao tâm tiêu trí bao hồi đó con.
Chuông cảnh tỉnh boong boong giục thúc,
Trống Lôi Âm tiếng giục mê trần;
Làm sao MINH ĐỨC TÂN DÂN,
Đạo giùa đức mạnh tu thân vững vàng.
Nay Thầy đã đôi hàng phân giải,
Học Bình Minh lẽ phải ghi xương;
Đem tra thi thố khoa trường,
Đức tài vĩnh viễn an khương tấn hành.
 
Sửa lần cuối:

dong tam

New member
Xin mời quý huynh tỷ xem tiếp:

HOÀ ĐỒNG TÔN GIÁO, Tý thời,18.05.Kỷ Dậu. (01.07.1969)


TÔN BÁ LINH - Tôn Sư mừng chư hiền đồ,
Tôn sư báo đàn, chư hiền đồ thành tâm tiếp lịnh KIM MẪU hạ trần, Tôn sư xuất ngoại. Thăng.

TIẾP ĐIỂN: VÔ CỰC TỪ TÔN - Mẹ linh hồn mừng chung các trẻ !
Các con an tọa nghe Mẹ tiếp kinh.

BÀI

Đạo đã chuyển từ niên Giáp Tý,
Máy Huyền linh khởi thỉ đề qua;
Thập nhị chi phái phân ra,
Cùng chung hột giống của mà Huyền Khung.
Vì nhơn nguyện Thiên tùng như thử,
Mấy mươi năm hai chữ CAO ĐÀI,
Khắp cùng thế giới đều hay;
Qui nguyên đề xướng sắp bày thêm ra,
Mẹ nhắc lại con Ta tường tận.
Vì thời cơ chuyển vận chưa thông,
Phổ thông hai chữ Đại đồng;
Dường như sét đánh, Trời long, đất dày,
Bởi như thế đổi thay ý nguyện.
Vì nhơn tâm vận chuyển chưa thông.
Lê Ngọc Lịch thọ sắc phong,
Chuyển cơ Hiệp Nhứt Đại Đồng tiếp liên;
Cùng Thiên Đạo Huờn Nguyên Chi Thế,
Lập Chánh truyền hầu để phổ thông.
Quách Văn Nghĩa hợp chung đồng,
Cùng Lê quang Hộ ân phong lập thành,
Tiếp chuyển tiếp tồn sanh Đại Đạo;
Cơ Qui Nguyên hoài bảo huờn lai,
Phan Khắc Sửu, Nguyễn Bửu Tài.
Hồi chuông đổ trống Cao Đài Qui Nguyên,
Gây khắp nẻo cùng miền quê thị;
Cho khách trần chung thủy lưu tâm,
Vận hành đã được bao năm,
Đạo Trời thống nhứt còn nằm đợi trông.
Chơn lý Tầm Nguyên thông đạt nguyện,
Phần Tú, Kiên thực hiện Giác Đài;
Tinh thần nhằm lúc lung lay,
Khiến nên Cơ Đạo khó khai hấn bền.
Kỳ vận chuyển tuổi tên tỏ rạng,
Nơi Tam Quan treo bảng trường thi;
Mở đường Đại Đạo Tam Kỳ,
Thảo cùng Phan Nghị phát huy Đạo vàng

Chưa ổn định thi tràng khai hoát,
Chung Tâm Hòa Phái phát phổ thông;
Trần Công Sanh quyết một lòng,
Lập thành chủ nghĩa giao thông Thiên Hoàng.
Vì như thế khó toan hành sự,
Bởi danh từ khó giữ bền lâu;
Tiếp qua một đoạn nhịp cầu,
Kỳ duyên quả mãn ngõ hầu đạt công.
Lần lượt qua cộng đồng Thiên luật,
Nơi Nhị Giang hiệp sức nhơn hòa;
Giữ gìn bản thể Trời Cha,
Ngô Hoàng Dư thọ Kỳ Ba lập thành;
Vì tư tưởng phát sanh vô định,
Đành trôi qua vì lịnh đã truyền.
Làm sao phục lại bổn nguyên,
Làm sao cấu tạo nhơn duyên Đạo Trời;
Kỳ phát động khắp nơi xây dựng,
Trung Hưng Tòa triệu chứng đề qua.
Trần Văn Quế, Vĩnh Thuật ra,
Lãnh phần sứ mạng Trời Cha lập thành
;
Cao Thượng Tòa chánh danh đề diễn,
Nơi Hậu Giang diễn tiến điều hòa.
Trần Ngọc Lân thọ lịnh Cha,
Lập thành Thánh thể Kỳ Ba tại trần;
Điểm xét lại cựu tân cho đủ,
Chơn Lý Hồi Quán trụ Cao Đài.
Nguyễn Văn Năm thọ sắc khai,
Trong hồi biến chuyển Cao Đài phân thân.
Tu Di Đồ nơi trần xuất hiện,
Bởi lòng phàm sở nguyện tạo nên;
Làm sao bảo vệ tuổi tên,
Nguyễn Văn Mưu nguyện xây nền Thánh Cơ.
Vừa minh định Thiên Thơ mở hội,
Khiến lòng người thay đổi khôn lường;
Tiên Thiên Giáo Hội đề chương,
Đoàn Văn Chiêu lãnh cột rường nơi đây.
Mẹ nhắc đến lòng này đau khổ,
Bởi vì con một ổ chia nhau;
Khiến nên cốt nhục pha màu,
Đoạn ra từ đoạn lưỡi dao vô tình.
Nay Mẹ tả Bình Minh kế tiếp,
Điểm đề danh liên hiệp Phái Chi;
Đặng cho con trẻ tường tri,
Trong ngày Long Hội con qui một nhà.(...)
 
LỜI THƯA TRƯỚC.​

Đề tài VÌ MỘT GIÁO HỘI CAO ĐÀI DUY NHẤT (mở ngày 28-10-2009) quí thành viên có nêu ra nhiều câu hỏi mà đã nhiều năm trôi qua chưa thấy có câu trả lời. Các câu hỏi nầy có khi có trong một bài viết, có khi liên quan đến nhiều bài viết.

Do vậy Văn Chí xin phép tham gia trả lời một số câu trong phạm vi của ĐĐTKPĐ (còn những nội dung rộng hơn Văn Chí xét thấy không có khả năng).

Văn Chí cố gắng trả lời từng câu theo ý thành viên nêu câu hỏi. Cũng có khi không trả lời riêng từng câu do trùng ý hay cần liên tục mới sáng tỏ thì xin phép trình bày bằng một bài tổng hợp nếu quí thành viên thấy chưa chính xác hay chưa sáng tỏ cần trao đổi thêm thì xin vui lòng nêu câu hỏi cụ thể Văn Chí cố gắng hầu đáp.

Để tiện theo dõi Văn Chí xin phép ghi là TRẢ LỜI MỘT, TRẢ LỜI HAI...

Khi trả lời Văn Chí cố gắng tóm lược câu hỏi trước (theo nhận xét nếu có sơ thất xin quí vị thông cảm và chỉ ra để điều chỉnh).

Sau đó mới căn cứ vào chánh giáo của ĐĐTKPĐ mà trả lời; khi trả lời thì có ghi rõ trả lời về nội dung gì.

Nay kính.
 
TRẢ LỜI MỘT.
“Về 03 cách về với Đức Chí Tôn”.​

Xin phép nêu nguyên văn 03 văn bút của quí thành viên:

MỘT.
28-01-2010 07:49 PM#312
hienhuuThành Viên Ưu Tú​
Chúng ta có 3 cách để về với Thầy như :
Cách 1 thì đi theo phẩm trật Cửu-Thiên Khai Hóa tức theo Hội-Thánh CTĐ là Lập Đức, Công, Ngôn. thì mới về được.
Cách 2 thì đi theo Thập-Nhị Đẳng-Cấp thiêng liêng tức theo Hội-Thánh Phước-Thiện là phải thọ khổ để Thắng khổ thì mới về được.
Cách 3 là Tịnh Luyện nếu còn sức khõe mạnh thì luyện để về chớ không có buộc.
Những người đi trong Cửu Phẩm hay đi trong Thập-Nhị là khi mình nhận thấy đủ Tam-Lập hay là Thắng khổ rồi mà còn Sức nữa, thì vào nhà Tịnh để được Tu-Chơn. Nơi đây các vị đó sẽ được học Phương-Pháp Luyện Tinh hóa Khí, Luyện Khí hóa Thần, tức Tinh, Khí, Thần hiệp nhất là Huờn-Hư đó vậy.
Vậy Tịnh Luyện nếu người không có sức khõe thì thôi chớ không buộc vì lý do mình Bịnh thì chính là Ơn trên đã khiến như thế để cho mình trở về cùng Thầy.
Còn nếu mình tu theo Cửu Phẩm hay thập nhị mà mình thấy còn sức khõe thì nên Tịnh để thoát xác mà trở về cùng Thầy./.
&&&
HAI.
28-01-2010 09:20 PM#314
Trung ngônThành Viên Ưu Tú​
Nguyên văn bởi hienhuu
Chúng ta có 3 cách để về với Thầy như :
Cách 1 thì đi theo phẩm trật Cửu-Thiên Khai Hóa tức theo Hội-Thánh CTĐ là Lập Đức, Công, Ngôn. thì mới về được.
Cách 2 thì đi theo Thập-Nhị Đẳng-Cấp thiêng liêng tức theo Hội-Thánh Phước-Thiện là phải thọ khổ để Thắng khổ thì mới về được.
Cách 3 là Tịnh Luyện nếu còn sức khõe mạnh thì luyện để về chớ không có buộc.
Những người đi trong Cửu Phẩm hay đi trong Thập-Nhị là khi mình nhận thấy đủ Tam-Lập hay là Thắng khổ rồi mà còn Sức nữa, thì vào nhà Tịnh để được Tu-Chơn. Nơi đây các vị đó sẽ được học Phương-Pháp Luyện Tinh hóa Khí, Luyện Khí hóa Thần, tức Tinh, Khí, Thần hiệp nhất là Huờn-Hư đó vậy.
Vậy Tịnh Luyện nếu người không có sức khõe thì thôi chớ không buộc vì lý do mình Bịnh thì chính là Ơn trên đã khiến như thế để cho mình trở về cùng Thầy.
Còn nếu mình tu theo Cửu Phẩm hay thập nhị mà mình thấy còn sức khõe thì nên Tịnh để thoát xác mà trở về cùng Thầy./.
&&&
Vâng, cám ơn Huynh hienhuu đã cho chúng ta biết thêm về những cái mới của Cao Đài Giáo - như một khái niệm (Trung ngôn nhận được thông tin từ các bài viết của tác giả).
Tuy nhiên, nếu là tín đồ Cao Đài cần dè dặt đối với các khái niệm khá mới mẻ này.
Vẫn là câu hỏi cũ, rất cũ, khái niệm cho các cách về Thầy này Huynh lấy từ nguồn Thánh ngôn nào vậy??
Xin dẫn Thánh ngôn và lập luận cho khá chắc đôi chút + dẫn nguồn Thánh ngôn chứ không thì sẽ có khá nhiều thành viên đang lẩn quẩn cho việc "lẩn quẩn" này (đọc lại các bài liền kề sẽ thấy rõ).
Như cũng đã nói ở bài viết trước, nếu Huynh thấy rằng cần thiết bảo vệ quan điểm của mình - đại ý:Người Cao Đài không chỉ cần lập công quả là sẽ trở về Thầy thì cứ lập một chủ đề khác. Chắc hẳn QTV1 sẽ giúp đỡ tận tình.
Xin để chủ đề trôi theo các bài viết phục vụ một cách liên tục sự theo dõi của người đọc và không làm loãng đi gợi ý của người lập chủ đề.
Trân trọng.
BA.
28-01-2010 10:25 PM#315
Đạt TườngThành Viên Ưu Tú​
Anh chị em,
Mọi lý luận về "TỊNH" này phải dựa vào nền tảng của TÂN LUẬT và Thánh Ngôn Hiệp Tuyển (Thầy dạy về ăn chay và tịnh) chứ không thôi sẽ không có giá trị thuyết phục đối với đạo hữu các chi phái trong DDTKPD!
Lý luận của huynh hiênhưu chưa có chứng cứ chặt chẽ !
Còn của huynh quênmattieu, căn bản là tốt nhưng đôi chỗ vẫn chưa chặt chẽ (có lẽ vì phần thực hành Tâm pháp còn ở mức sơ cấp)
Xin hãy tiếp tục vì đây cũng là 1 vấn đề cần giải tõa để giúp mọi người hiếu đúng với ý Thầy đã dạy !
&&&&&

RÚT RA CÂU HỎI:

?1- Từ hiền Trung Ngôn.​
Vẫn là câu hỏi cũ, rất cũ, khái niệm cho các cách về Thầy này Huynh lấy từ nguồn Thánh ngôn nào vậy??
Xin dẫn Thánh ngôn và lập luận cho khá chắc đôi chút + dẫn nguồn Thánh ngôn chứ không thì sẽ có khá nhiều thành viên đang lẩn quẩn cho việc "lẩn quẩn" này (đọc lại các bài liền kề sẽ thấy rõ).

?2- Từ hiền Đạt Tường.​
Mọi lý luận về "TỊNH" này phải dựa vào nền tảng của TÂN LUẬT và Thánh Ngôn Hiệp Tuyển (Thầy dạy về ăn chay và tịnh) chứ không thôi sẽ không có giá trị thuyết phục đối với đạo hữu các chi phái trong DDTKPD!
Lý luận của huynh hiênhưu chưa có chứng cứ chặt chẽ !
Còn của huynh quênmattieu, căn bản là tốt nhưng đôi chỗ vẫn chưa chặt chẽ (có lẽ vì phần thực hành Tâm pháp còn ở mức sơ cấp)
Xin hãy tiếp tục vì đây cũng là 1 vấn đề cần giải tõa để giúp mọi người hiếu đúng với ý Thầy đã dạy !
&&&&&

(CÒN TIẾP...TRẢ LỜI).
 
TRẢ LỜI MỘT (tt).

TRẢ LỜI.​

Theo chổ tìm hiểu của chúng tôi thì phần trình bày của hienhuu có nguồn gốc từ LỜI THUẬT LẠI của Đức Hộ Pháp trong quyển CON ĐƯỜNG THIÊNG LIÊNG HẰNG SỐNG.
Đức Ngài THUẬT LẠI tại Đền-Thánh, đêm 13-8- Mậu-Tý (16-9-1948).
Đây là bài THUẬT LẠI ĐẦU TIÊN nên đánh số 01.
Nguyên văn như sau:​
&&&&&​

Đêm nay Bần-Đạo thuyết Đạo có hơi dài chút rán ngồi nghe.
Kể từ đêm nay Bần-Đạo bắt đầu thuyết một đề-tài trọng yếu đề-tài này phải thuyết nhiều đêm mới hết, bởi thế cho nên cứ mỗi bốn đêm thì thuyết một lần, Bần-Đạo rán thúc nhặt cho con cái Đức Chí-Tôn có một bửu-bối nơi tay, để ngày kia tìm đường đoạt Đạo.
Đề tài đêm nay là: "Con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống".
Con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống là gì? Nếu hiểu theo Chơn-Pháp của Đức Chí-Tôn thì con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống là: Con đường dành cho các chơn-hồn khi thoát xác, rồi quay về với Đức Chí-Tôn để được định vị, thăng hay đọa. Nhưng nếu hiểu theo triết-lý nhà Phật, thì con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống là con đường của Luân-Hồi.
Như vậy, Con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống là một đề-tài thuyết-pháp khó khăn, muốn cho toàn-thể con cái Đức Chí-Tôn thấu đáo, lãnh hội đầy-đủ nghĩa lý sâu xa của đề-tài đó, ít ra phải viết thành sách, mà sách ấy tới mấy ngàn trang là ít.
Ấy vậy, con cái của Đức Chí-Tôn rán nghe và rán đi cúng đặng nghe, để nữa sau khỏi hối tiếc và oán trách, nói sao Bần-Đạo không cho hay trước, không cho biết trước, để được nghe những điều bí yếu trong nền Đạo Cao-Đài, những triết-lý cao siêu mà chỉ có Đạo Cao-Đài mới có, tuy nhiên, âu cũng là một đặc ân của Đức Chí-Tôn dành cho Đạo Cao-Đài ngày nay, nên mới có mấy đứa nhỏ cố gắng học được tốc-ký để ghi chép những lời thuyết Đạo của Bần-Đạo, vì những lời thuyết Đạo này, không phải của Phạm Công Tắc mà là của Hộ-Pháp, Hộ-Pháp thay lời Đức Chí-Tôn nói Đạo cho toàn thể con cái của Ngài nghe, quí hay chăng là ở chỗ đó.

Bần-Đạo may duyên được Đức Chí-Tôn chọn làm Ngự-Mã-Quân của Ngài để thay Ngài, lập nền chánh-giáo, tức là nền Đạo Cao-Đài này để thay thế tất cả Tôn-Giáo đã có từ trước. Vì lẽ các Tôn-Giáo ấy, ngày nay không phù hợp với lương tri lương năng của loài người nữa. Hay nói một cách khác là các nền Tôn-Giáo ấy ngày nay đã bị bế.
Nhớ lại, từ khi Đức Chí-Tôn chọn Bần-Đạo làm Hộ-Pháp; dạy Bần-Đạo phò-loan và chấp bút, đặc biệt hơn hết là chấp bút, vì nhờ chấp bút, mà Bần-Đạo được Đức Chí-Tôn dạy cách Tham-Thiền.
Khi biết Tham-Thiền rồi mới Nhập-Tịnh, nhưng Nhập-Tịnh không phải dễ, chỉ sai một tí, sót một chút là có thể hỏng cả cuộc đời. Nhập-Tịnh mà không tới thì bị hôn trầm tức là ngủ gục, còn Nhập-Tịnh mà quá mức thì phải điên đi mà chớ.
Nhập-Tịnh mà đúng rồi, còn phải nhờ các Đấng Thiêng-Liêng mở Huệ-Quang-Khiếu nữa, mới xuất hồn ra được.
Con đường mà Chơn-Thần xuất ra rồi về với Đức Chí-Tôn là con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống đó vậy. Chính Bần-Đạo được Đức Chí-Tôn mở Huệ-Quang-Khiếu nên mới được về hội kiến cùng Đức Chí-Tôn và đã học hỏi được nơi Đức Chí-Tôn nhiều điều bí-yếu bí-trọng.
Ngày nay, giảng con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống là Bần-Đạo muốn dìu dắt chơn-thần của toàn thể con cái Đức Chí-Tôn về với Đức Chí-Tôn qua một hình thức thuyết Đạo.
Con đường về với Đức Chí-Tôn không phải dễ, mà cũng không phải về là tới liền, muốn về với Đức Chí-Tôn ta phải qua nhiều Cung nhiều Điện, mỗi Cung chúng ta gặp một sự lạ, mỗi Điện chúng ta gặp một huyền vi khác nhau, phải đi từ Cung này đến Điện nọ, nên gọi là "Dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống". Về được với Đức Chí-Tôn thì không còn hạnh-phúc nào bằng.
Một kiếp tu chưa chắc đã về được với Đức Chí-Tôn, muôn năm ngàn kiếp mà nếu thiếu tu, cũng không khi nào về được với Đức Chí-Tôn, mấy anh mấy chị rán nhớ điều đó, mà tu thì sao?
Trong cửa Đạo Cao-Đài đã dạy tu rồi, nhứt là Bần-Đạo đã giảng nhiều rồi, ấy là ta phải: Lập Đức, Lập Công và Lập Ngôn đó vậy.
Bây giờ trở lại đề-tài dục tấn trên con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống. Như hồi nãy Bần-Đạo có nói, nhờ hồng ân đặc-biệt của Đức Chí-Tôn. Bần-Đạo được diễm phúc hội-hiệp cùng Ngài và trước khi hội-hiệp cùng Ngài, Bần-Đạo cũng đã được hội-kiến cùng các Đấng Thiêng-Liêng nơi cõi Thiêng-Liêng Hằng-Sống.
Kể từ đêm nay, Bần-Đạo không thuyết Đạo, mà Bần-Đạo chỉ nói lại, thuật lại những gì Bần-Đạo đã thấy, đã nghe, đã biết, khi gặp các Đấng nơi cảnh Thiêng-Liêng kia, âu cũng là phương-pháp giúp cho toàn-thể con cái Đức Chí-Tôn biết trước cảnh đó như thế nào, để nữa có về thì không bỡ ngỡ.

Bần-Đạo nói, con cái Đức Chí-Tôn nghe, rồi tưởng-tượng như mình có một người hướng dẫn, và đi đến đâu, thì người hướng-dẫn giải-thích đến đó, tỷ-dụ như người ngoại-quốc đến nước Việt-Nam được một người hướng-dẫn và giới-thiệu các thắng cảnh tại Việt-Nam đó vậy.

Mỗi chơn-hồn nơi thế gian này, khi thoát xác đều phải qui tựu tại Đền-Thánh này và đi từ trong Đền-Thánh này đến các cảnh giới khác. Tại sao phải vào Đền-Thánh này, mà không vào các Đền-Thánh khác?
Tại vì Đền-Thánh này tỷ như một trường thi: Mỗi năm Chánh-Phủ mở một kỳ thi như thi Tú-Tài chẳng hạn, địa-điểm đã ấn định rồi, chỉ có thi nơi đó mới có giá-trị: Tòa-Thánh này cũng vậy Đức Chí-Tôn lập ra để con cái của Ngài Lập-Công, Lập-Đức, Lập-Ngôn mà về với Ngài.

Vào Đền-Thánh tức là vào Hiệp-Thiên-Đài, đi từ Hiệp-Thiên-Đài đến Cung-Đạo, nhưng muốn vào Cung Đạo phải qua Cửu-Trùng-Đài, mỗi nấc của Cửu-Trùng-Đài là mỗi lần khảo-dượt của các Đấng Thiêng-Liêng, là mỗi lần cứu-rỗi của Cửu-Vị Nữ-Phật, là mỗi lần cầu xin, của các đẳng linh-hồn, toàn-thể con cái Đức Chí-Tôn đọc lại mấy bài kinh từ Đệ Nhứt-Cửu đến Đệ Cửu-Cửu, đến Tiểu-Tường và Đại-Tường thì biết.
Trong cửa Đạo Cao-Đài có ba cách về với Đức Chí-Tôn, hay là có ba cách lập vị mình:

* Cách thứ nhứt: Các chơn-hồn mượn xác phàm phải đi theo phẩm-trật Cửu-Thiên Khai-Hóa, tức là theo Hội-Thánh Cửu-Trùng-Đài, dùng tài sức mình lập công để đoạt Đạo, nghĩa là phải đi từ bậc Đạo-Hữu lên Lễ-Sanh, Giáo-Hữu, Giáo-Sư, v.v... Phải lập công từ Tiểu-Thừa, Trung-Thừa đến Thượng-Thừa, phải ăn chay từ sáu ngày mỗi tháng đến mười ngày, rồi ăn chay trường luôn, phải tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ, các chơn-hồn đi theo phẩm-trật Cửu-Thiên Khai-Hóa còn phải có tự-tín rồi tha-tín, tức là giác-nhi giác-tha đó vậy, có tự-tín rồi tha-tín tức là có tự độ mình rồi độ chúng-sanh.
Đạo Cao-Đài khác với các nền Tôn-Giáo khác là ở chỗ đó.
Trước hết phải độ mình, độ gia-đình mình rồi độ ngoài thân tộc, tức là độ cả nhơn-loại vậy; mình phải học để mình hiểu Đạo. Hiểu Đạo rồi, nói sao cho thân tộc mình hiểu Đạo, chẳng những nói Đạo cho thân tộc mình biết mà thôi, mà phải nói Đạo cho toàn nhơn-loại nữa.
Mình học để biết Đạo là lập Đức, nói Đạo cho thân tộc mình biết Đạo là lập Công, độ toàn nhơn-loại là lập Ngôn, có làm đủ ba điểm đó mới về được với Đức Chí-Tôn bằng con đường Củu-Thiên Khai-Hóa.

* Cách thứ hai: Lập vị mình theo Thập-Nhị Đẳng-Cấp Thiêng-Liêng tức là theo Hội-Thánh Phước-Thiện, nơi đây ngoài việc ăn chay giữ-gìn luật Đạo tùng theo chơn-pháp của Đức Chí-Tôn còn phải dùng Đức để lập vị mình.
Muốn lập đức phải đi từ Minh-Đức, Tân-Dân, Thính-Thiện, Hành-Thiện, Giáo-Thiện, Chí-Thiện, v.v...
Lập đức là gì? Là dùng sự thương yêu để cứu độ chúng-sanh mà Đức Chí-Tôn đã có nói: "Sự thương yêu là chìa khóa mở cửa Bạch-Ngọc-Kinh" là vậy đó.
Các đẳng chơn-hồn tái kiếp đang chơi vơi trong "Tứ-Diệu-Đề-Khổ". Muốn thoát khổ họ phải thọ khổ, có thọ khổ mới thắng khổ. Người đi theo Thập-Nhị Đẳng-Cấp Thiêng-Liêng là dạy người ta thọ khổ để thắng khổ. Muốn dạy người ta thọ khổ trước hết thì mình phải thọ khổ đã, muốn thọ khổ thì không gì hay bằng dùng Đức Thương-Yêu. Cho nên bậc thứ nhất của Thập-Nhị Đẳng-Cấp Thiêng-Liêng là Minh-Đức đó vậy.
Có thương yêu mới thọ khổ được, ta thương Cha-Mẹ ta, ta mới chịu khổ mà bảo dưỡng Cha-Mẹ lúc tuổi già, ta thương con ta, ta mới lo tảo lo tần nuôi nó khôn lớn, ta thương những người cô thế tật nguyền ta mới tầm phương giúp đỡ họ, mà tầm phương giúp họ là thọ khổ đó vậy.
Thọ khổ rồi mới thắng khổ, thọ khổ không phải một ngày, một bữa, mà phải thọ khổ cho đến nơi đến chốn, nghĩa là nuôi Cha-Mẹ cho đến tuổi già, lo cho con từ khi còn bé cho đến lúc nó tự lo cho nó được.
Hai điều đó còn dễ, đến lo cho thiên-hạ hết khổ mới khó, vì khi lo người này, hết người này đến người khác và cứ như vậy trọn kiếp sanh mới gọi là thắng khổ. Có thắng khổ mới về được với Đức Chí-Tôn bằng con đường Thập-Nhị Đẳng-Cấp Thiêng-Liêng.

* Cách thứ ba: Cách thứ ba Là cách Tu-Chơn hay là cách Tịnh-Luyện cũng thế.
Những người đi trong Cửu-Phẩm Thần-Tiên hay đi trong Thập-Nhị Đẳng-Cấp Thiêng-Liêng, khi mình nhận thấy là đã Lập-Đức, Lập-Công, Lập-Ngôn rồi. Hay là đã thọ khổ và thắng khổ rồi mà còn sức nữa, thì vào nhà Tịnh để được Tu-Chơn. Nơi đây các vị đó sẽ được học phương-pháp luyện Tinh hóa Khí, luyện Khí hóa Thần, tức là Tinh-Khí Thần hiệp nhứt là Hườn-Hư đó vậy.
&&&​
Bây giờ trở lại con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống.
Khi chúng ta qua khỏi Cửu-Trùng-Đài bước vào Cung-Đạo, trực ngó lên trên không thấy Bát-Quái-Đài nữa mà thấy Đại-Hải minh mông, thấy mờ-mờ mịt-mịt. Càn-Khôn Vũ-Trụ bao la không thể gì tưởng tượng được, bắt đầu từ lúc này chúng ta bước vào Con-Đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống rồi đó.
Nếu đi theo con đường Cửu-Thiên Khai-Hóa và con đường Thập-Nhị Đẳng-Cấp Thiêng-Liêng thì khác. Vì đi hai con đường đó là khi ta mãn kiếp về với Đức Chí-Tôn, ta đi với cả Linh-Hồn và Thể-Phách.
Còn hôm nay chúng ta về với Đức Chí-Tôn bằng Chơn-Thần vì Bần-Đạo may duyên được đặc ân của Đức Chí-Tôn cho phép nên mới đi riêng cũng như đi tắt vậy.
Chúng ta ngó lên thấy như Đại-Hải minh mông, nhưng thật ra không phải Đại-Hải mà là vòm trời của Càn-Khôn Vũ-Trụ, nơi xa xa khi ẩn khi hiện trong mây, một tòa nhà nguy nga đồ-sộ, thoạt ẩn thoạt hiện mập-mờ, vừa ngó thấy thì ta muốn đến ngay, không biết làm sao đến, vừa lúc đó pháp-thân ta như có một sức mạnh hút đi, không đi mà đến, đến mau như đi bằng máy bay vậy.
Đến rồi ngó thấy quần sanh nhơn-loại muôn trùng, lớp đến lớp đi không biết bao nhiêu mà nói, nhiều như vậy, mà dường như không có tiếng động nào, thứ-tự lớp lang có trật-tự lắm.
Nơi đó gọi là Cung Thánh, tức là Cung để cho các chơn-hồn ra khỏi cảnh Thiêng-Liêng đi tái kiếp mà cũng là nơi tiếp rước các đẳng linh-hồn sau khi tái kiếp trở về.
Nơi đó giống như một trạm hàng không, hay là trạm xe lửa vậy, kẻ đi, người đến muôn trùng, đi thì buồn, về thì vui, nhưng tất cả đều hiển-hiện lên khuôn mặt của mọi người một sự lo lắng chung. Đi cũng lo mà về cũng lo, đi mà lo là lo không biết xuống thế-gian có làm tròn bổn-phận khi giao-ước với Đức Chí-Tôn không? Về cũng lo là lo không biết phẩm-vị mình ra sao có còn hay mất, lo lắm, mọi người đều lo lắm.
Kỳ sau, Bần-Đạo giảng tiếp về Cung Thánh và Cung Thể-Thiên Hành-Hóa./.


Mong rằng bài trên đây làm sáng tỏ được phần nào câu hỏi của hiền Trung Ngôn và Đạt Tường.
Kính.
 

Trung ngôn

Active member
Trung ngôn đặt câu hỏi nói:
Vẫn là câu hỏi cũ, rất cũ, khái niệm cho các cách về Thầy này Huynh lấy từ nguồn Thánh ngôn nào vậy??
Xin dẫn Thánh ngôn và lập luận cho khá chắc đôi chút + dẫn nguồn Thánh ngôn chứ không thì sẽ có khá nhiều thành viên đang lẩn quẩn cho việc "lẩn quẩn" này (đọc lại các bài liền kề sẽ thấy rõ).
Huynh Trần Văn Chí trả lời – dựa vào bài Thuyết đạo của Đức Hộ pháp nói:
Mong rằng bài trên đây làm sáng tỏ được phần nào câu hỏi của hiền Trung Ngôn và Đạt Tường.
Kính.
Kính Huynh tỷ đệ muội,
Như vậy, cuối cùng cũng có một lời giải đáp về xuất xứ - bài thuyết đạo – để giải đáp câu hỏi của Trung ngôn.
Cám ơn Huynh đã dẫn nguồn.
Xin tiếp tục đặt câu hỏi: Trong bài nói của Đức Hộ pháp hay nhiều nguồn khác (mà Huynh đang có); có bài nào nói về phương pháp [a] [giải pháp hay một khái niệm nào đó đang tồn tại, hoặc tự đặt ra cũng được] để con cái Đức Chí tôn “về” với ngôi xưa vị cũ?
Đại loại phương pháp mà Trung ngôn đặt ra như cách Đức Thượng đế nói để một vị Đại la thiên phải theo [phương pháp - a] đó mà về!!!
 

Trung ngôn

Active member
Bài thuyết đạo của Đức Phạm Hộ pháp nói:
Nhớ lại, từ khi Đức Chí-Tôn chọn Bần-Đạo làm Hộ-Pháp; dạy Bần-Đạo phò-loan và chấp bút, đặc biệt hơn hết là chấp bút, vì nhờ chấp bút, mà Bần-Đạo được Đức Chí-Tôn dạy cách Tham-Thiền.
Khi biết Tham-Thiền rồi mới Nhập-Tịnh, nhưng Nhập-Tịnh không phải dễ, chỉ sai một tí, sót một chút là có thể hỏng cả cuộc đời. Nhập-Tịnh mà không tới thì bị hôn trầm tức là ngủ gục, còn Nhập-Tịnh mà quá mức thì phải điên đi mà chớ.
Nhập-Tịnh mà đúng rồi, còn phải nhờ các Đấng Thiêng-Liêng mở Huệ-Quang-Khiếu nữa, mới xuất hồn ra được.
Con đường mà Chơn-Thần xuất ra rồi về với Đức Chí-Tôn là con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống đó vậy. Chính Bần-Đạo được Đức Chí-Tôn mở Huệ-Quang-Khiếu nên mới được về hội kiến cùng Đức Chí-Tôn và đã học hỏi được nơi Đức Chí-Tôn nhiều điều bí-yếu bí-trọng.
Kính HTDM,
Trong khi chờ đợi Quý HTDM trả lời, chia sẻ thêm thông tin, Trung ngôn tìm đọc trong bài thuyết đạo của Đức Phạm Hộ pháp, trong đó Đức Ngài có nói về phương pháp để có “Con đường mà Chơn-Thần xuất ra rồi về với Đức Chí-Tôn là con đường Thiêng-Liêng Hằng-Sống đó vậy”.
Như vậy, theo lời Đức Ngài nói, con cái của Đức Chí tôn có một phương pháp để đi đến cõi Thiêng liêng hằng sống.
Tiếp đó, phía trước, Đức Ngài có nói đến việc Chí tôn hướng dẫn Ngài về cách Tham thiền [1].
Sau khi Tham thiền rồi thì mới Nhập tịnh [2].
Nhập tịnh đúng rồi “còn phải nhờ các Đấng Thiêng-Liêng mở Huệ-Quang-Khiếu nữa, mới xuất hồn ra được” [3].
Thế là đã rõ, theo Đức Phạm Hộ pháp, chính Ngài đã được chỉ dẫn và thực hiện 03 bước:
1. Tham thiền (tự làm).
2. Nhập tịnh (tự làm).
3. Mở Huệ quang khiếu (nhờ đến Thiêng liêng thực hiện).
Câu hỏi đặt ra: Hội thánh Tòa thánh Tây Ninh (bất chấp tên gọi hiện nay hay tên gọi trước đây – kể từ sau khi Đức Phạm Hộ pháp quy Tiên), từ chức sắc, đến tín đồ thì “ai” đang nắm giữ để truyền lại cho con cháu Đức Chí tôn?
(Ai được hiểu là Hiệp thiên đài hay Cửu trùng đài).
Nếu có thì thực là ân phước cho chúng sanh trong ơn tận độ kỳ ba!!
Kính lời.
 

NguyenVanUt

New member
"từ chức sắc, đến tín đồ thì “ai” đang nắm giữ để truyền lại cho con cháu Đức Chí tôn?".
Từ xưa tới giờ chỉ nghe nói con cái Đức Chí Tôn, chứ ai đã nghe con cháu ĐCT bao giờ?

Ngày xưa từ buổi sơ khai nền Đạo thì cũng từ không mà làm nên có, chỉ giữ vững đức tin mà các vị chức sắc Đại Thiên Phong đã tạo được sự nghiệp của ĐCT tại thế cho toàn thể con cái của Ngài được hưởng.
Ngày nay qua bao cuộc khảo đảo làm chinh nghiêng Thuyền Đạo, Hội Thánh Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh đang từng bước củng cố các cơ quan Đạo, phát hành phổ thông giáo lý, nghi tiết cho đồng nhất, đặc biệt hơn hết là trong công cuộc phát triển cơ quan truyền giáo hải ngoại cho nền Đạo được sớm phát triển nhanh khắp toàn cầu...
Vấn đề không quan trọng là ai đã và đang được thọ truyền về phần vô vi, thời buổi nầy phần nhiều người đang xu hướng theo lối vật chất, nên việc cần làm bây giờ là phải phổ biến cho người ngoại đạo biết đạo, người có đạo thì thực hành việc tam lập là điều cần yếu nhất, chứ chưa có công nghiệp trong đạo thì nói chi đến việc tịnh luyện viễn vong, tuy nhiên theo Chơn Truyền thì ngày sau con cái Đức Chí Tôn vẫn đi được trên con đường thứ ba Đại Đạo, việc mở Huệ Quang Khiếu thì phải được các Đấng Thiêng Liêng hộ trì, mà việc ấy đến bao giờ mới có thì phải tùy thuộc vào Thiên Cơ chứ phàm làm sao hiểu nổi.
 

Trung ngôn

Active member
Nguyễn Văn Út nói:
"từ chức sắc, đến tín đồ thì “ai” đang nắm giữ để truyền lại cho con cháu Đức Chí tôn?".
Từ xưa tới giờ chỉ nghe nói con cái Đức Chí Tôn, chứ ai đã nghe con cháu ĐCT bao giờ?
Kính Huynh,
Văn này được viết bởi Trung ngôn, nên bây giờ Huynh mới nghe đến từ “con cháu Đức Chí tôn” là đúng rồi. Huynh không đồng ý cũng đành chịu vậy, cười.
Nếu phải trích Thánh ngôn thì Trung ngôn sẽ trích nguyên văn, cũng như đã từng trích nguyên văn Pháp chánh truyền vậy.
Huynh yên tâm về cách dùng từ của Trung ngôn, trong trường hợp sai thì Trung ngôn vẫn tiếp thu để tu tiến, Trung ngôn là người cầu thị mà!!
Với Trung ngôn thì tu là sửa những gì đã trật (lấy ý của Thánh ngôn).
----------------------------------
Vẫn câu hỏi cũ, nội dung không có gì mới: "từ chức sắc, đến tín đồ thì “ai” đang nắm giữ để truyền lại cho con cháu Đức Chí tôn?".
a. Nếu trả lời một cách đơn giản theo tiếng Việt là có hay không có?
Trường hợp 1: Khi có thì xin trả lời có.
Trường hợp 2: Khi không có thì xin trả lời không có.
Cả 1 và 2 đều có chủ từ là "ai".
Xin đừng trả lời lòng vòng.
b. Theo cách giảng giải của Đức Hộ pháp thì được hiểu cả ba là Tham thiền, Nhập tịnh và mở Huệ quang khiếu đã được Đức Hộ pháp lĩnh hội, thực hành.
Câu hỏi phụ: Sau khi quy Tiên, Đức Ngài đã để lại di sản này cho lớp hậu thế tại Tây Ninh (Trung ngôn hiểu như vậy vì các vị ở vùng này luôn dùng cụm từ "chi chi cũng tại Tây Ninh"), vậy thì lớp người hậu sanh đã giữ "báu vật" này như thế nào?
Xin được hỏi để biết thêm.
Dĩ nhiên là phần hỏi thêm này không làm thay đổi những gì đã biết.
Kính.
 

Ngày 17-4-2013 08:35 AM#347
Trung ngônThành Viên Ưu Tú​

Xin tiếp tục đặt câu hỏi: Trong bài nói của Đức Hộ pháp hay nhiều nguồn khác (mà Huynh đang có); có bài nào nói về phương pháp [a] [giải pháp hay một khái niệm nào đó đang tồn tại, hoặc tự đặt ra cũng được] để con cái Đức Chí tôn “về” với ngôi xưa vị cũ?
Đại loại phương pháp mà Trung ngôn đặt ra như cách Đức Thượng đế nói để một vị Đại la thiên phải theo [phương pháp - a] đó mà về!!!

TRẢ LỜI.
“Giới thiệu một số bài dạy cách về với Đại Từ Phụ:
04 nguồn chính và một số nguồn phụ”.
&&&​
RĂN MÌNH KHI TRẢ LỜI.
Nho nhã con tua tập tánh tình,
Dưới đời đừng tưởng một mình lanh.
Một câu thất đức thiên niên đọa,
Nhiều nổi trầm luân bởi ngọn ngành.
(TNHT Q1 trang 121 bản in 1973).

&&&​

Thành thật cảm ơn hiền TN đã nêu câu hỏi.
Kính quí vị quan tâm bài viết.

Theo nhận xét của Văn Chí thì câu hỏi nầy thuộc diện giáo lý; nội dung rất quan trọng và rất bao quát. Xét cho đến cùng (chớ không phải duy nhất) thì cả nền chánh giáo của Thầy dù là giáo lý hay pháp luật cũng đều nhằm đưa con cái Chí Tôn đang trầm luân nơi biển trần khổ về với Ngài. Còn mục đích cuối cùng của người có tín ngưỡng là được trở về với Đấng Hóa Công.

Muốn làm rõ ít nhiều về con đường về với Đấng Chí Tôn thì phải ra công tham khảo rồi chắc lọc để viết thành một chuyên đề. Sau đó phải trình lên Hội Thánh. Hội Thánh kiểm duyệt rồi ban hành mới có đầy đủ giá trị.

Người xưa có dạy: đường lớn nhiều ngõ nên mất dê.

Thử hình dung xem có chừng năm ba quyển sách (của cá nhân hay tập thể) trình bày con đường về với Đấng Chí Tôn theo ĐĐTKPĐ mà trong đó chứa đựng những nghị luận trái ngược nhau thì người học đạo, người ngoại đạo làm sao mà không hoang mang hay lầm lạc?

Nên kinh Đệ Tam Cửu dạy: Hội Thánh minh giao sách trường xuân chính là dạy cho nhơn sanh phải xác định cái nguồn gốc cuốn sách cho cẩn thận.
&&&​

Do nơi tính chất quan trọng của câu hỏi mà Văn Chí thì rất sợ văn bút của mình gây lầm lạc cho bạn đồng sanh ấy là tự mình gây ra tội tình rất oan uổng cho kiếp sanh may duyên gặp đạo (Bá thiên vạn kiếp nan tao ngộ- DLCK).
Tự nguyện làm công quả là tốt nhưng nếu không tự xét khả năng của mình, không lượng định được việc trọng khinh tạo ra sự lầm lạc cho bạn đồng sanh thì dù vô tình hay cố ý lòng vẫn không yên ổn.
Nghĩ đến việc gây ra tội do nơi văn bút rồi phải tái kiếp mà trả quả thì thấy rất hãi hùng.... biết kiếp lai sinh có cái duyên gặp đạo, gặp cơ duyên như kiếp nầy chăng?

Do vậy Văn Chí xin phép giới thiệu vài bài gốc từ các nguồn để quí vị tìm vào đó mà tự phát hiện là chính.
Còn phần nhận xét hay phân tích kèm theo chỉ là cái biết của người đang học đạo như có sơ thất chi xin quí bạn đồng sanh thông cảm.

Phần trình bày của Văn Chí trong bài viết nầy nơi trang web thì xin hiền TN và chư vị quan tâm xác định nó như một BÀI NHÁP (để tham khảo rồi thêm bớt, chỉnh sửa hay thấy sai quá không đáng sửa thì vứt bỏ) là xác đáng hơn hết... may duyên mà được chư vị hiểu theo hướng đó Văn Chí rất vui lòng.

Do đâu mà nghĩ vậy?

Ngày 02-11- Bính Dần (1926) Thầy dạy về tôn chỉ ĐĐTKPĐ:
Ta vì lòng đại-từ đại-bi vẫn lấy đức háo sanh mà dựng nên mối Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ; tôn chỉ để vớt những kẻ hữu phần vào nơi địa-vị cao thượng, để tránh khỏi số mạng luân hồi và nâng những kẻ tánh đức bước vào cõi nhàn, cao hơn phẩm hèn khó ở nơi trần thế nầy.
(TNHT Q1 trang 69 Bản in 1973).​

Theo Văn Chí hiểu thì đây là cơ sở để Tân Luật (Phần Đạo Pháp- Chương II- điều 12) chia tín đồ ra làm 02 bậc: Thượng thừa và Hạ thừa.

Điều 13: Trong hàng hạ thừa, ai giữ trai kỳ từ mười ngày sắp lên, được thọ truyền bửu pháp, vào tịnh thất có người chỉ luyện Đạo.
&&&​

Như vậy con đường về với Thầy dành cho cả nhị thừa.

Trong nhị thừa đều có tam giới (Thượng; Trung; Hạ).
Trong mổi giới lại có sáu diện (Sĩ, Nông, Công, Thương, Binh và Tăng).

ĐĐTKPĐ khai cơ tận độ và độ tận thì con đường về của tam giới và sáu diện trong nhị thừa tính ra đã là 36 vị trí xuất phát (Nhị thừa x Tam giới x sáu diện = 36).
&&&​

(con tiếp: BỐN NGUỒN CHÍNH)
 
(trả lời hiền TN tt bài trước)​

BỐN NGUỒN CHÍNH.​

Theo Văn Chí hiểu thì có 04 nguồn chính đáp ứng cho câu hỏi trên: Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, Văn bút của Đức Hộ Pháp (Lời Thuyết Đạo, Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống, Giảng Về Bí Pháp...) và Thể Pháp Tôn Giáo (qua kiến thiết và kiến trúc).
Nguồn phụ là một vài văn bút của Đức Quyền Giáo Tông, Đức Cao Thượng Phẩm và các vị thời quân
Mổi nguồn có nhiều bài nên xin phép giới thiệu đại nét.

.1- Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

+ Ngày 27-8-Bính Dần (1926) Thầy dạy:
...Dầu một vị Đại La Thiên Đế xuống phàm mà không tu cũng khó trở lại địa vị đặng....
(TNHT Q1 trang 51 bản in 1973).

+ Đêm 19-12-1926. Thầy dạy:
....Danh vọng thường hay chống lại với đức hạnh. Nó rất ngắn ngủi và thường thành tựu nhờ nơi sự gian trá.
Danh quyền nơi Trời là bền chắc nhứt. Và danh quyền ấy mới chịu đựng nổi bao sự thử thách.
(Trung bạch: Mấy con phải làm sao mà tìm đặng phẩm tước của cải và danh vọng của Trời).

Thầy trả lời: TU./. (TNHT Q1 trang 136 bản in 1973).

+ Đại-Đàn Cầu-Kho - 5 Mars 1927.

Ngọc-Hoàng Thượng-Đế Viết Cao-Đài
Giáo Đạo Nam Phương
Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng hễ vào Đạo thì phải phế hết nhơn sự; nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng một đều rất thấp thỏi là vào một chỗ u-nhàn mà ẩn-thân luyện Đạo. Thầy nói cho các con biết: nếu công quả chưa đủ, nhơn sự chưa xong, thì không thể nào các con luyện thành đặng đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ-độ chúng-sanh mà thôi. Như không làm đặng thế nầy, thì tìm cách khác mà làm âm-chất, thì cái công tu luyện chẳng bao nhiêu cũng có thể đạt địa vị tối cao. Các con phải hiểu Thánh-Ý Thầy mà trau dồi chí lớn. Dầu đi lối nào cũng phải cần cái đèn thiêng-liêng chiếu rõ mới đặng vững bước. Làm vua, làm thầy, làm công nghệ, làm đạo-sĩ cũng cần phải có chí lớn mới mong thành tựu đặng. Các nghề dưới thế không có nghề nào là vô dụng mà vô dụng là tại người không chuyên vậy.
(TNHT Q1 trang 101-102 bản in 1973).

+ Ngày 23-8-Bính Dần (1926) Thầy dạy:

Ngôi vị Bạch Ngọc Kinh chẳng ưa chứa kẻ hung hăng mà lạ một điều là kẻ hung hăng đạo đức thường phá cửa lún đặng vào, địa vị phần nhiều đoạt bởi kẻ ấy….
(TNHT Q1 trang 49 - bản in 1973)
 
TRẢ LỜI TN (tt)

NGUỒN TỪ KINH THIÊN ĐẠO VÀ THẾ ĐẠO.​

2- Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.
Dĩ nhiên các bài trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo đều nhằm mục đích dạy môn sinh làm lành lánh dữ (mà làm lành lánh dữ chính là con đường về với Chí Tôn).
Trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo có nhiều bài chỉ ra các công thức hành đạo (nhất là phần Thế Đạo). Nhưng nếu phải chọn để giới thiệu một vài bài thì Văn Chí xin phép chọn 02 bài: Phật Mẫu Chơn Kinh (PMCK) và Di Lặc Chơn Kinh (DLCK).
Do đâu mà chọn 02 bài đó?
Trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo chỉ có 02 bài đó có kèm chữ chơn kinh. Một bài viết bằng văn vần, một bài viết bằng văn xuôi. Trong kinh có chơn kinh thì hẳn nhiên phải đặc biệt.

+ PHẬT MẪU CHƠN KINH (PMCK).
Theo giáo lý ĐĐTKPĐ thì Đức Chí Tôn khai đạo xong thì Ngài giao cho Phật Mẫu độ rỗi con cái của Ngài (Đức Chí Tôn vi chủ Bát Quái Đài, cầm chánh giáo là cầm hồn của đạo không để thất chơn truyền nhưng Thầy không nhơn thân phàm ngữ lại còn cao không với khuất không rờ nhơn sanh làm sao mà biết Thầy dạy điều chi, dạy thế nào nên phải lập Hội Thánh hữu hình là Hiệp Thiên và Cửu Trùng để thay thân cho Thầy thực thi chánh giáo qua 02 phân khúc:
- Lập thành chánh giáo “do Hiệp Thiên Đài đảm nhiệm”
- Vận hành chánh giáo “do Cửu Trùng Đài đảm nhiệm”).
PMCK viết theo thể song thất lục bát, mổi khổ có 04 câu cả bài là 13 khổ thơ vị chi là 52 câu (04 x13 = 52). Đây là thể thơ của Việt Tộc, không phải du nhập từ ngoài vào).
Nội dung có thể chia làm 03 đoạn.

Đoạn một: (từ câu 01 đến 16).
Dạy về ngôi vị và tầm quan trọng của Phật Mẫu nơi cõi hư vô, nguyên lý sản sinh ra vạn linh sanh chúng (hữu hình), bát hồn vận chuyển trong mối tương quan Thiên- Địa- Nhơn (tam tài) để cao thăng phẩm vị. Khi đến thế gian thì đều có Phật Mẫu dạy dỗ, giúp đở để giảm oan trái.

Đoạn hai: (câu 17- 36)
Phật Mẫu là chủ Ngôi âm tùng theo chủ ngôi dương là Đức Chí Tôn để hoằng khai ĐĐTKPĐ là việc tiền định. Nhiệm vụ của ĐĐTKPĐ là mở Đại Hội Long Hoa; lấy chữ HÒA làm gốc (Dạy lẫn cho nhau đặng chữ Hòa...).
Đạo là thuyền bát nhã đưa chúng sanh đến bờ bĩ ngạn; là yến sáng của Đấng Đại Từ Bi ban bố cho nhân loại để chuyển họa vi phước. Nhờ chân lý của Đạo mà con cái của Ngài tỉnh thức, đi vào đường công quả để phục hồi địa vị nơi cảnh thiêng liêng.
ĐĐTKPĐ mở cơ tận độ nên ánh sáng chơn lý sẽ giúp nhân loại dù là nguyên nhơn, hóa nhơn hay quỉ hồn cũng có trường lớp thích ứng để tu học và tiến bộ.
Học đạo và hành đạo theo ĐĐTKPĐ thì được hưởng cơ Đại Ân Xá không còn bị oan trái trói buộc, không còn bị giam hãm nơi địa ngục hay quỉ quan.
Thiễn nghĩ đoạn 02 là dạy cho môn sinh hiểu được tài nguyên và môi trường của ĐĐTKPĐ.

Đoạn ba: (câu 37-52).
Đức Chí Tôn giao nhiệm vụ độ rỗi con cái Ngài cho Phật Mẫu.
Cách thức giáo hóa của Phật Mẫu đối với cá nhân (kỳ khai tạo nhứt linh đài; qui thiên lương quyết sách vận trù; giáo hóa hồn hữu hạnh hữu duyên...).
Phương pháp mở mang đạo pháp (Diệt hình tà pháp, cường khai đại đồng; Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch...; hiệp qui tam giáo hữu cầu chí chơn;...)

+ DI LẶC CHƠN KINH.
. Trong LỜI TỰA Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo Hội Thánh có dạy:
...Chúng ta thầm xét thì đủ hiểu rằng: Đã trải qua mười năm Chí-Tôn mới mở cơ tận độ. Cơ tận độ nhơn sanh duy kể từ ngày ban Tân-Kinh nầy mà thôi.
Thương thay cho những kẻ vô phần chịu phận thiệt thòi qui liễu trước ngày Tân-Kinh chuyển Pháp. Ấy cũng là quả kiếp của nhơn sanh do Thiên-Thơ tiền định. Nếu chúng ta thương tưởng thì duy có một phương độ-rỗi là trì tụng Di-Lặc Chơn-Kinh hầu các đẳng linh-hồn đặng siêu-thăng Tịnh-độ....

. Trong TIỂU DẪN phần tang sự thì Hội Thánh có dạy:
Tối lại cả Đạo-hữu và gia quyến của người lâm chung phải thành tâm tụng Di-Lặc Chơn-Kinh cho tới ngày di linh cữu.
. Phần Thế Đạo: DLCK ở phần Thiên Đạo nhưng lại cho phép tụng cả ở phần Thế Đạo (Sau bài KINH CẦU BÀ CON THÂN BẰNG CỐ HỮU ĐÃ QUI LIỄU).

. Sau mổi Tuần Cửu hay Tiểu Tường, Đại Tường đều tụng DLCK.
Trong DLCK lại còn có BÀI KHAI KINH....khai kinh dạy rõ từ vô thượng cho đến thậm thâm đều có pháp thích ứng.

. Trong bài thuyết đạo: GIẢI THÍCH KINH CÚNG TUẦN CỬU của Ngài Hồ Bảo Đạo đoạn chót viết:
Nên lưu-ý là danh-hiệu các vị Phật nêu trong kinh Di-Lạc ở các tầng Trời từ Hạo-Nhiên Pháp đến Hỗn-Ngươn Thiên không có đề Phật-danh của mỗi vị mà chỉ có đề nhiệm-vụ của mỗi vị mà thôi./.

Đoạn nầy có phù hợp với giáo lý ĐĐTKPĐ hay không?
Xin thưa rằng phù hợp.
Bởi vì trong ĐĐTKPĐ có qui định: Lạy người sống: 02 lạy; Lạy vong phàm: 04 lạy; Lạy Tiên Phật là 09 lạy; Lạy Thầy là 12 lạy.
(TNHT Q1 trang 11- Bản in 1973).

Nhưng trong DLCK có chú thích: Tụng đến đây rồi niệm danh chư Phật, hể niệm danh mổi vị lạy một lạy.
Trong chánh giáo của Thầy nhất quán nhau; khi dạy khác đi thì nó có ý nghĩa riêng chớ chẳng phải nghịch lý với những điều đã dạy trước. Khi dạy lạy một lạy ắt phải có lý do hệ trọng.

Theo định hướng NHIỆM VỤ MỔI VỊ (không phải phẩm vị Phật hay Bồ Tát) của Ngài Hồ Bảo Đạo đã dạy hậu tấn có thể phát triển lên để hiểu rằng trong DLCK có 05 phương án: Di Lạc Vương Phật; Nhiên Đăng Cổ Phật; Kim Bàn Phật Mẫu; Từ Hàng Bồ Tát; Chuẩn Đề Bồ Tát và Phổ Hiền Bồ Tát.

Trong mổi phương án có số công thức thực thi tương ứng với nhiệm vụ phật danh.

. Theo Đạo Sử và Lời Thuyết Đạo của Đức Hộ Pháp thì lần đầu tiên (1925) Đức Chí Tôn dạy thiết Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung ngoài các thức ăn theo buổi tiệc phải có Thầy còn dạy sắp đặc 13 cái ghế. Có 10 ghế dành cho các Đấng Vô Hình là: Phật Mẫu và Cửu Vị Tiên Nương. Còn lại 03 ghế dành cho các vị hữu hình là Hộ Pháp Thượng Phẩm, Thượng Sanh.
Nhưng trong DLCK Cửu Vị Tiên Nương thành ra Cửu Vị Nữ Phật.

Một số văn bút (chưa qua sự kiểm duyệt của Hội Thánh) lý giải rằng Cửu Vị Tiên Nương thăng phẩm lên thành Cửu Vị Nữ Phật. Điều nầy trái với lý giải của Ngài Hồ Bảo Đạo.

Cửu Vị Nữ Phật trong DLCK không phải là bậc phẩm Phật Vị mà Phật ở đây là nhiệm vụ, là công thức hay phương pháp.
Trong bài đầu tiên giảng về CON ĐƯỜNG THIÊNG LIÊNG HẰNG SỐNG Đức Hộ Pháp cũng giảng là Cửu Vị Nữ Phật.
&&&​
Văn Chí chỉ là tiếp thị rao hàng còn hàng thật hẳn nhiên là phải chờ Hội Thánh ĐĐTKPĐ cho soạn thảo hay tiếp nhận từ quí hiền nhân quân tử bốn phương rồi kiểm duyệt và ban hành.
&&&​
Xin phép nêu lên một vấn đề liên quan đến giáo lý Đức Thích Ca Mâu Ni Văn Phật (là Đấng thuyết bài DLCK) với nội dung của DLCK:

Đức Phật Thích Ca khi chấn hưng Phật Giáo thời Nhị Kỳ Phổ Độ có dạy TỨ DIỆU ĐỀ: SANH; LÃO; BỆNH; TỬ.
Theo Đức Hộ Pháp dạy thì Phật Giáo thời Nhứt Kỳ chỉ có Tam Diệu Đề. Đức Thích Ca bổ xung thêm SANH ĐỀ thành Tứ Diệu Đề.
Đến Tam Kỳ Phổ Độ Ngài giáng cơ giảng dạy DLCK nội dung có nhiều lần dạy: ĐẮC A NẬU ĐA LA TAM DIỆU TAM BỒ ĐỀ?
Tam Diệu Tam Bồ Đề so với Tứ Diệu Đề là ít hơn một đề.

Có một dạo Văn Chí và một số bằng hữu cùng học đạo nêu ra và nghĩ rằng giáo lý ĐĐTKPĐ dạy sống chết như trở bàn tay; lật bên nầy là sống, lật bên kia là chết như vậy sống chết chỉ là một. Do vậy còn lại TAM DIỆU TAM BỒ ĐỀ. Nghe cũng có lý (cười sic)....

Nhưng sau đó được dạy rằng:
TAM DIỆU TAM BỒ ĐỀ là TAM LẬP. Tam lập là: Lập Đức; Lập Công; Lập Ngôn.

Cho dù đi theo con đường Cửu Thiên Khai Hóa (Cửu Trùng Đài); Thập Nhị Đẳng Cấp Thiêng Liêng (Phước Thiện) hay Tu chơn (Tịnh luyện) của ĐĐTKPĐ vạch ra thì cũng đều cần Tam Lập.

Đối chiếu ta thấy Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ đều cùng một nguyên lý là: Nhứt bản tán vạn thù. Đạo đi từ vô vi rồi lần đến hữu hình. Người tu Hành buộc phải trau dồi cho xứng đáng với phẩm nào trong Thần, Tiên, Thánh, Phật thì đạt vào phẩm vị đó nên rất khó thành.
Đến Tam Kỳ Phổ Độ thì nhân loại đã tấn hóa đến buổi năm châu chung chợ bốn biển chung nhà nên Thầy đảo ngược nguyên lý: Vạn thù qui nhứt bản. Đạo đi từ hữu hình đến vô vi. Thầy mở rộng đường về cho con cái nên cho phép DÂNG CÔNG ĐỔI VỊ.
Nghĩa là cái công phụng sự xã hội được con cái của Thầy nhìn nhận đáng với phẩm vị nào thì Thầy đem phẩm vị tương xứng ban cho.
Nói rộng ra ngoài xã hội cho dù người không tín ngưỡng (không theo tôn giáo nào) nhưng biết thực thi Tam Lập, được nhân loại nhìn nhận thì Đức Chí Tôn nhìn nhận.
Cả Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ là buổi buộc nên khó. Tam Diệu Đề của Nhứt Kỳ được bổ xung thêm SANH ĐỀ thành ra Tứ Diệu Đề.
Đến Tam Kỳ là buổi mở nên đường về với Thầy rộng rãi hơn. Tam Diệu Tam Bồ Đề của Tam Kỳ là Tam Lập hoàn toàn mới so với Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ.

Trước Thầy khai Phật Giáo rồi Tiên Giáo và Nho Giáo nay thì phản tiền vi hậu nên lập tam giáo qui nhứt thì Nho là trước Lão là giữa Thích là chót (TNHT Q1 trang 52 bản in 1973)
Tường quang nhứt khí chiếu minh đông,
Tam giáo qui nguyên giử cộng đồng.
Phật Pháp khuyến nhơn qui mỹ tục,
Nho Tông phục thế hưởng thuần phong.
Diệu huyền chơn đạo tu tông hướng,
Mê hoặc tà mưu khả dự phòng.
Thế thượng dục tri thiên sứ đáo,
Tam Kỳ Phổ Độ lập kỳ công.
(TNHT Q1 trang 114- bản in 1973)​

Tam Thánh (đại diện cho nhân loại) Ký Hòa Ước với Đức Chí Tôn thể hiện pháp điều của ĐĐTKPĐ.
Thân thế của Tam Thánh xét ra không có vị nào trong giới tu hành; mà đều là những người có công phụng sự xã hội (tạo công nghiệp theo Tam Lập) rồi được nhân loại nhìn nhận nên Đức Chí Tôn nhìn nhận.

Đức Chí Tôn nhìn nhận thì Ngài đem phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật trả lại cho các vị theo luật Bác Ái – Công Bằng.
Thiễn nghĩ PHÁP ĐIỀU TAM KỲ PHỔ ĐỘ dành cho toàn nhơn loại (là con cái Đức Chí Tôn) chớ không chỉ riêng cho môn đệ Đức Cao Đài.

Tóm lại:
Tam Diệu Tam Bồ Đề là Tam lập là phương pháp lập thiên vị cho cả con cái Đức Chí Tôn.

(CÒN TIẾP VĂN BÚT ĐHP).
 
(Bài: 04 nguồn dạy ĐƯỜNG VỀ... tt)​

3- Nguồn từ văn bút Đức Hộ Pháp.

Theo sự học hiểu của chúng tôi thì đây là nguồn phong phú nhất, đa dạng nhất và rõ ràng nhất.
Chúng tôi xin phép trình nguyên văn một vài bài và một trích đoạn điển hình. Hy vọng rằng quí vị quan tâm tìm vào kho tàng của Ngài để lại sẽ đạt được ước muốn của mình.

Bài một:​
ĐỨC HỘ PHÁP
nói chuyện với thợ hồ đang xây cất Tòa Thánh.
Ngày 16-10-Bính Tý (dl 29-11-1936)​
Bài ghi chép của Sĩ Tải Hiển và Luật Sự Trấn.​

Công thợ đang ngồi nghỉ mệt nói chuyện, chợt thấy Đức Hộ Pháp đi vừa đến, cả thảy anh em thợ sợ hãi vội lo kiếm việc làm, kẻ trộn hồ, người rinh đá, ...
Đức Ngài bảo mấy em nghỉ, cả thảy lại đây.
Mấy em làm có mệt thì nghỉ, đừng có trốn lánh nặng tìm nhẹ thì công quả không đầy đủ, đừng có tựu lại Sở, ghi tên rồi đi chơi, chờ đến giờ chạy về làm bộ siêng năng đặng Cai Sở ghi công. Đó là mấy em tưởng làm đây rồi trả nợ cho qua buổi.
Thường công việc làm ở ngoài Đời, họ buộc từ giờ từ khắc, là vì mấy em làm ăn tiền, nên cái tật lánh né đã quen. Nơi cửa Đạo, trường công quả không buộc, không ép, hễ ai muốn lập công để tạo quả vị thì làm, rất có nhiều phương lập công, từ bực thấp hèn dốt nát đến hạng trí thức thượng lưu, đều tùy sức và tài năng của mỗi người, nam nữ cũng vậy.
Người giỏi có văn tài thì làm việc công văn ngồi bureau, cùng là đi Đầu Họ, Đầu Quận để hành đạo, đúng chơn truyền luật pháp không sửa cải, họ phổ độ nhơn sanh lập đức chiếm đại công quả. Điều nầy rất khó, vì mang một Thánh thể vào mình để dìu dẫn con cái Đức Chí Tôn, nếu ai đầy đủ Tam Lập, được đem đại công về trình với Đức Chí Tôn; còn nếu làm không trọn vẹn thì công quả đã mất mà còn thiếu nợ nhơn sanh nữa mà chớ !

Còn ngồi bureau làm công văn, mà cứ lo xem sách, truyện, đọc báo, mà chờ giờ ghi công trả nợ, đến khi khai công nghiệp kể cho nhiều năm để thăng phẩm Chức sắc về hữu hình thì dễ, còn về quyền năng thiêng liêng thì dễ gì qua được, giỏi lắm là trừ hột cơm của nhơn sanh, chưa đủ nữa là khác !

Sự lập công quả nơi cửa Đạo, dầu việc nhỏ việc lớn, đều là đắc vị được, do tâm đức để tạo thiện đức, thiện công, thiện ngôn, trong ba mà thiếu một là chưa chiếm được, dầu cho công phu đào luyện lên bực Đạo Nhơn đi nữa, một lời nói chơi, nếu có hại cho người cũng đủ tái kiếp trả quả, chớ đừng nói đến sự ghét giận người, gây oán trách hờn, không trọn tình thương thì không dễ gì đoạt được Tam Lập.

Còn mấy em đây là hạng dốt nát thì cứ vâng lời Hội Thánh, sự mệt nhọc mồ hôi tầm tã mà không thối chí ngã lòng, ăn cháo rau, rách rưới, ngày nào cũng vẫn như ngày nấy, dầu vậy mà mấy em có phước về đây hiệp cùng Qua lo tạo tác Đền Thánh.

Trước kia đã 3 năm khởi tạo đều ngưng trệ bỏ dở vì không tạo được tâm đức nên Hội Thánh giao cho Bần đạo lãnh làm. Bần đạo tạo tâm đức cho mấy em.
Nếu ai muốn làm công quả, phải trọn hiến thân, chỉ có người Phước Thiện về đây, đứa thì lãnh Đốc Công, Cai Sở, thợ hồ, công thợ, nam thì tu chơn, nữ thì thủ trinh tình nguyện cho đến khi tạo Đền Thánh xong. Chỉ có tâm đức đó, thầy trò mình mới dám lãnh, đứng ra làm.

Vậy, các em ráng bền chí lo công quả tạo tâm đức, lập âm chất, thì Đức Chí Tôn ban cho mỗi đứa được hưởng cái vinh diệu vô cùng, ai muốn hưởng tại thế thì hưởng, còn không thì hưởng phần thiêng liêng cao trọng và tồn tại.
Hồi mấy thế kỷ trước, nơi Đế Thiên Đế Thích, người cũng tạo bằng cây gạch ngói vôi cát, Chí Tôn cũng cho đắc vị hết.
Bên nữ thì ham làm vì sợ thua bên nam, nên ráng làm cho rồi, còn bên nam thì ỷ giỏi không cần làm, thả trôi, đến ngày Chí Tôn cho thành thì bên nữ đắc vị về thiêng liêng nhiều hơn, còn bên nam thì ít.
Ngộ nghĩnh thay, lúc thành đạo, tòa Đế Thiên trở thành đá hết, đến đỗi xung quanh và người đang bào đục, nấu cơm, . . . nói rõ là cả thảy người nơi đó đều thành đá, bia tạc lưu truyền thiên niên chi cổ cho đến ngày nay vẫn tồn tại, danh tiếng khắp cả hoàn cầu, mặc dầu xác họ là đá, nhưng linh hồn họ đạt Phật vị cả.

Đền Thánh Đạo Cao Đài hiện tại ở Việt Nam ngày nay là nơi Đức Chí Tôn ngự, tượng trưng Bạch Ngọc Kinh tại thế, bây giờ nó là gạch ngói, xi măng, cát vôi, cho đến buổi thành thì là một khối đá vĩnh cửu trường tồn cũng như tòa Đế Thiên đó vậy, nó sẽ mỹ lệ hơn nữa.
Rồi đây, mấy em muốn đến xem phong cảnh tòa Đế Thiên, Bần đạo sẽ cho đến xem thì sẽ thấy quyền năng thiêng liêng vô đối. Vậy mấy em cứ lo làm, đừng tưởng làm đây rồi không có hưởng gì, nếu mấy em đặt trọn đức tin nơi Chí Tôn thì sẽ hưởng hồng ân vô đối của Ngài ban cho không gì bằng.
Khi làm Đền Thánh xong, Bần đạo còn chọn một chỗ cất Nhà Tịnh thì mấy em cũng ráng làm nữa.

Ông Huỳnh Thiện Chơn :
- Bạch Đức Ngài, nếu cất Nhà Tịnh, mấy con cũng cứ lo làm công quả, làm sao tịnh được và cấp bực nào mới xin vào tịnh ?
Đức Ngài nói :
- Bần đạo lập là chung cho cả nhơn loại, hạng nào cũng được, không phân biệt Chức sắc hay tín đồ, hoặc các Chi phái xin trở về, cùng là các đạo giáo khác, nếu muốn thì vào cũng được nhưng phải có Quyền Vạn linh công nhận (đó là phần Chi phái và ngoại giáo).
- Bạch Đức Ngài, rồi đây người nào cũng xin vào tịnh, rồi ai lo phổ độ, ai làm công quả, chỉ có mấy người không phận sự họ mới xin vào tịnh.
“Đức Ngài day lại nói với Sĩ Tải Hiển, Luật Sự Trấn ở bên cạnh đang ghi chép:
- Hiển với Trấn hay tò mò lục lạo, các nước ngoài người ta giỏi lắm, chế ra nhiều thứ chữ viết tắt lẹ lắm, mỗi khi hội đàm cùng giảng thuyết, họ đều ghi chú lại hết, còn mình đây dốt, chưa phát minh, có khi hội đàm cùng đi ra ngoài đời, có nhiều cái hay mà mình không chép lại được để học hỏi. Mấy đứa bây ráng chế làm sao, làm dấu như thế nào để ghi lại cái hay mà người ta nói giữa đông người.”
Đức Ngài nói tiếp :
- Chơn, bộ em ham tịnh lắm sao ? Đâu có phải những người làm biếng mà vào tịnh được. Trước khi vào tịnh thì phải có đủ Tam Lập là : Lập Đức, Lập Công, Lập Ngôn. Nơi cửa Đạo đặt ra việc chi đều là hữu ích cả, mượn Thể Pháp tượng trưng mới đoạt Bí Pháp. Trước kia Bần đạo lập Phạm Môn xuất hiện tại Tòa Thánh tượng trưng Cửa Phật độ sanh hồn, tức nhiên gọi Phật; Minh Thiện Đàn mở tại Khổ Hiền Trang, Bần đạo khai Thể Pháp tại đó, gọi là Pháp, Phước Thiện ngày nay đã ra thiệt hiện, tức nhiên ra mặt xã hội, gọi là Tăng, thì nó sẽ bành trướng vận chuyển lưu hành cùng khắp xã hội nhơn quần, nghĩa là phải phụng sự cho toàn thể chúng sanh, tế khổ phò nguy, đi Đầu Họ Đầu Quận làm hậu thuẫn cho Hội Thánh Cửu Trùng Đài, lo cơ tận độ, chỉ có công phổ độ mới giải quả tiền khiên. Ai không có xuất thân hành đạo, nghĩa là không có công phổ độ thì không vào tịnh được, vì không đủ Tam Lập.
Trước khi xin vào, phải nạp tất cả giấy tờ hành đạo, lai lịch từ thuở nhỏ đến trưởng thành, ở ngoài Đời không án tiết, trong cửa Đạo cũng vậy, trọn tùng luật pháp Đạo và trường trai mới được, rồi giao cho Pháp Chánh minh tra về Thể Pháp đủ bằng chứng.
Chi Pháp phải giữ hồ sơ của mỗi người, còn nhiều điều trọng yếu về vô vi, không thế gì Chi Pháp biết đặng, chiếu văn kiện thì đầy đủ lắm vậy, Chi Pháp chỉ biết văn bằng hiện hữu về mặt hữu hình mà thôi. Khi minh tra đủ lẽ, rồi mới giao cho Hộ Pháp cân thần, nếu vị nào đủ Tam Lập thì vào tịnh được, bằng thiếu thì trở lại đi Đầu Họ, Đầu Quận, đi hành đạo nữa. Nói rõ là phải có Hộ Pháp trục thần khai khiếu mới biết đặng đủ hay thiếu Tam Lập, còn không thì ngồi tịnh, bụng lớn vô ích.
Ông Bàng :
- Bạch thầy, như thế mấy con đây làm công quả, không đi Đầu Họ Đầu Quận làm sao vô tịnh được, vì không đủ Tam Lập ?
Đức Ngài nói :
- Riêng về phần mấy em, cứ lo tạo Đền Thánh, rồi đây Bần đạo định cho, phần thiêng liêng thì Chí Tôn đã hứa, còn về hữu hình, nếu muốn làm quan Đạo thì Bần đạo ban cho phẩm Giáo Thiện, nam nữ cũng vậy.
Ông Trình bạch :
- Những hạng văn hay chữ giỏi tài đức, người ta mới giúp nhơn quần xã hội đúng theo lời thầy dạy là phải giúp nhơn loại khắp cả hoàn cầu đặng Lập Đức, còn Lập Công, muốn đền ơn cha mẹ và xã hội vì công sanh thành và xã hội nuôi hột cơm và manh quần tấm áo, nhờ đó mà ta sống, tức nhiên đụng ai trả nấy, nghĩa là trả cho toàn thể nhơn quần xã hội trên mặt địa cầu mới đúng thuyết Lập Công. Còn Lập Ngôn thì tìm hiểu chép Thánh Ngôn lời lành lời phải để lại cho nhơn sanh học hỏi cái Đạo ngôn ngữ mà bắt chước, mấy con dốt có thế nào làm được?
Đức Ngài nói :
- Phương pháp Tam Lập, nói rõ là chỉ đem trọn mảnh thân nầy làm tế vật cho Chí Tôn đặng phụng sự nhơn loại, nếu giải rõ thì rất nhiều chi tiết, để có dịp Bần đạo sẽ thuyết minh hoặc viết sách in ra cho học hỏi.
Bây giờ mấy em làm công quả, nó cũng ở trong thuyết Tam Lập, lại nữa cái công tạo tác Đền Thánh là đền thờ chung của toàn nhơn loại sùng kính, như thế cũng đáng lắm rồi.

Mặc dầu không đủ Tam Lập, mà mình làm điều gì mà toàn thể nhơn loại hằng ca tụng, nhắc nhở và ghi ân, lưu danh hậu thế, cũng là một việc khó làm, nó cũng sánh với công phổ độ vậy.

Nếu xét lại, em nào còn thiếu Thiện Công, Thiện Ngôn, sau nầy phải xuất sư, cũng làm thầy tạo nghiệp đạo, rồi ngoài kia hễ Chức sắc xuất dương ngoại quốc, các em cũng xuất sư tạo nghiệp ở các nước, nên ráng lập công, học cho thông mọi việc theo nghề nghiệp mình.

Bần đạo khuyên các em ở cùng nhau một sở, phải coi nhau như ruột thịt vậy, trên thương dưới, dưới không nghịch trên, dùng ngôn ngữ từ hòa đối đãi với nhau để đoạt đạo ngôn ngữ, nam nữ cũng vậy.
Thợ hồ :
- Bạch thầy, mấy con về đây làm công quả, đã hiến thân trọn đời vào Phước Thiện, hằng ngày cực khổ, ăn cháo rau, áo quần tiền bạc thiếu kém mọi mặt mà không Thiện Công, Thiện Ngôn. Bạch thầy, kiếp sanh làm người ở thế mong được cái Đức là hạnh phúc mà có người làm chưa được, bây giờ thầy dạy phải Thiện Đức thì làm sao cho đặng ?
Đức Hộ Pháp nói :
- Bần đạo hỏi mấy em về làm công quả tự mình đi hay là có ai biểu ?
- Mấy con là người hiến thân Phước Thiện thì trọn quyền của Hội Thánh sai khiến, khi nghe Châu Tri mộ công quả, mấy con mới vâng lịnh ông Đầu Họ biểu về đây.
Đức Ngài nói :
- Đó là lập công lập vị hay là chuộc quả, đứng vào hàng “Giáo nhi hậu thiện” là nghe lịnh mà theo. Nếu các em nào tâm đức minh mẫn, được “Bất giáo nhi thiện” là thiện công thiện ngôn đó vậy. Hạng nầy gọi là phi thường, khỏi vào Nhà Tịnh họ cũng đoạt pháp được là vì họ sẵn là nguyên nhân, họ hiểu biết mà làm, họ tự tạo âm chất, thật hành điều nghĩa điều thiện, là Thể pháp, tức nhiên có thể đoạt Bí pháp, có điều thiếu một việc, muốn đắc pháp phải có chơn sư khai khiếu mới trọn vẹn được, đó mới gọi là “Thượng phẩm chi nhơn”; còn mấy em đây là “Trung phẩm chi nhơn, giáo nhi hậu thiện”, mấy em tạo thiện đức được là là biết nghe lời Hội Thánh.

Người ta có tài thì làm việc hay, còn mình dở thì làm việc thường. Bần đạo tỉ dụ một việc thường để mấy em dễ hiểu : Phận mình dốt thì làm theo dốt. Muốn tạo thiện đức, thiện công, thiện ngôn là làm như vầy :

Mình nghe đâu có cất chùa thì mình tự tính đi đến xin làm công quả; nghe đâu có ai bị tai nạn khốn khổ thì trong đêm ấy, nằm tính và thương xót, nghe chỗ đó bị tai nạn, mình định sáng ngày rủ anh em hay tự mình đi, dầu sáng nầy tằm chín hoặc có một mối lợi gì đó cũng bỏ, đi đến trợ giúp việc tai nạn, đó là thiện đức, nghĩa là khi mình tính.
Khi đến nói như vầy: Thưa anh, tôi nghe anh bị tai nạn, tôi đến để xin phép giúp anh một ngày, hoặc là vác một cái cây, hoặc là giúp một đồng bạc, vậy xin anh vui lòng cho tôi giúp với một nghĩa mọn.

Khi mình nói là thiện ngôn, khi mình làm là thiện công. Chớ không phải ỷ có của rồi nói sỗ sàng : đây tôi cho anh một đồng bạc mua gạo ăn đỡ đói. Như vậy là chưa thiện ngôn.
Mấy em đừng có phân bì việc lập công với Đạo, bực Chức sắc mà không làm được, còn mình là tín đồ thì làm gì !
Mấy em phải hiểu rằng cái tâm đức từ thiện ở cửa Đạo không phân biệt lớn hay nhỏ, dầu nhỏ lớn đều làm được. Hễ ai có nguyên căn thì làm được.
Cam La sớm gặp cũng vinh,
Muộn thời Khương Tử cũng vinh một đời
.
Mấy em đừng lầm tưởng rằng phải vào Tịnh Thất mới đoạt pháp đặng. Mấy em làm công quả hằng ngày là tô điểm nuôi nấng Thể pháp. Khi mấy em đắc pháp mà mấy em chưa biết đặng, cái Thể pháp ở trong trong thuyết Tam Lập mình tự đào tạo nó hay là lo làm âm chất và làm điều thiện, tự giác nơi lòng mình, thì cái Chơn pháp ấy vẫn từ từ sẽ có và tồn tại. Đó mới gọi là Chơn pháp, chớ chẳng chờ ai ban cho mình Chơn pháp.

Nếu tâm thiện mình không có, dầu thọ pháp hay là tịnh luyện rồi nó cũng mất. Bởi lẽ ấy mà Bần đạo truyền Thể pháp lẫn có Bí pháp cho Chức sắc giải oan, tắm Thánh, hôn phối và phép xác. Chỉ có Giáo Sư Minh vừa khá rồi cũng bị lấy lại, còn bao nhiêu từ từ phai lợt của Bần đạo đã ban cho mà tự mình làm mất, bởi lý do không giữ tồn tại.
1. là sự nóng giận khiến ngôn ngữ không lành.
2. là sắc dục, dầu cho vợ chồng cũng là sắc dục.
3. là không trọn vẹn giữ trai giới và không tinh khiết.

Trọng đại hơn hết là cái đạo ngôn ngữ ở trong cửa Đạo, từ tín đồ lập công cho đến Chức sắc phải có ba ngàn (3000) công quả, đã nhiều năm dày công tu luyện mới nhập vào Thánh thể của Đức Chí Tôn, nếu mà chưa trọn đạo ngôn ngữ, thốt ra một lời nói bất lợi cho mình cho người thì nó cũng tan như giá.
Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang,
Nhứt ngôn khả dĩ tán bang.

Tỉ như lúc gặp đồng đạo của mình mà bị phạm tội với Đạo, với Hội Thánh, với thầy với bạn, họ đã chịu khổ đau tâm hồn lắm vậy. Mình là người vô tội hoặc là mang Thiên mạng vào mình, mà còn tánh đức phàm tục, cứ khinh rẻ chê bai, trích điểm, làm cho bạn mình đau khổ thêm. Lẽ đạo thương người không hết, có lý đâu buông lời nhạo báng, vô tình mà mình mất cả chơn pháp mà gánh lấy tội của họ đã làm mà may duyên cho họ được trao lại cho mình.
Chớ chi Hội Thánh thay hình thể Đức Chí Tôn, dùng luật hữu hình trị tội thì Thiên điều khỏi tội.
Còn mình không phải là thay hình thể Đức Chí Tôn, cũng là bạn đồng sanh, mà mình chưa chắc gì trong sạch hơn kẻ đang có tội, mà mình lại lãnh thêm nữa.
Cái huyền vi mầu nhiệm của Bí pháp rất hệ trọng lắm vậy.

Học đạo ngôn ngữ của Thánh hiền phải cẩn ngôn cẩn hạnh, trước khi nói phải suy nghĩ điều nào phải, điều nào lợi rồi sẽ nói. Một là chơn chánh, hai là dễ thương, ba là hữu ích.
Nhược bằng không được ba điều trên thì nên giới khẩu, làm thinh là tốt hơn nói.
&&&​

(CÒN TIẾP. Bài hai:
PHƯƠNG PHÁP LẬP THIÊN VỊ).
 
Bài chọn hai:​

PHƯƠNG PHÁP LẬP THIÊN VỊ.
Đền Thánh ngày 19 tháng 4 năm Tân Mão (1951)​

Đêm nay Bần Đạo giảng phương pháp lập thiên vị của mình. Ngày Bần Đạo đến tại Trí Huệ Cung, có đặng nhiều bức thơ của mấy bạn chúng ta cầu xin nhập vào Trí Huệ Cung một lượt với Bần Đạo nhiều lắm.
Ngày giờ ấy chính mình Bần Đạo cũng chưa biết thế nào tuyển chọn những chơn linh đem vào cửa Thiêng liêng ấy đặng. Đang lo không biết giải quyết thế nào về phương pháp nhập Trí Huệ Cung nên chưa quyết định. Nhứt là về mặt tuyển chọn không biết trả lời làm sao.
May duyên thay Đức Chí Tôn thấy không thể giải quyết đặng, mới cho hội diện cùng các Đấng cầm quyền Thiêng liêng của Đạo. Khi đặng hiểu rõ rồi, Bần Đạo lấy làm hân hạnh thấy rằng: "Cái nền Chơn Giáo của Đức Chí Tôn vẫn là đường đường ngay chánh, nhứt định về thể pháp Chơn truyền, không hề mê hoặc ai cả thảy". Và Bần Đạo cũng quả quyết rằng: "Những phương pháp mê hoặc của thiên hạ về Đạo lý sẽ bị Chơn truyền của Đức Chí Tôn từ từ tiêu diệt hết".

Muốn định Thiên vị của mình, quyền Thiêng liêng đã buộc. Buộc hẳn mà chớ, phải có tam lập của mình mới được, gọi là nhơn luân. Điều ấy Bần Đạo có truyền cho Chức Sắc Hiệp Thiên Đài hay trước rồi và dường như Đức Trần Khai Pháp đã có thuyết minh điều ấy rồi. Bần Đạo không cần luận thêm nữa. Bây giờ chỉ nói tại sao phải có tam lập ấy mà thôi.

Nếu người nào không có tam lập thì không có ở chung với ai được hết, chính mình đối với cơ thể hữu vi của đời, tức nhiên thể pháp mà không có bằng cớ chi hết thì ai tin rằng có Bí pháp để đạt pháp, đạt Đạo. Thể pháp mà không làm đặng, Bí Pháp vẫn khó, làm sao cho rồi, nếu mà không rồi hành tàng của họ về Bí Pháp tức nhiên mê hoặc chúng sanh mà thôi. Phải có hình mới có bóng, khi nào thấy bóng tức nhiên chúng ta quyết định có hình, bóng hình phải tương liên với nhau mới đặng.

Ấy vậy tam lập là: Lập Đức, lập Công, lập Ngôn, con người khi sanh ra mặt địa cầu nầy không có tam lập thì giá trị con người không có gì hết. Tam lập ấy quyết định cho ta, ta phải có mới sống chung với xã hội nhơn quần được.

Nếu con người không có đức thì làm sao xử sự trong gia đình, ngoài xã hội đặng.

Con người không có Công thì ở với ai cũng không được. Người ta làm ngã ngửa, còn mình ngồi đó hả họng hưởng, không làm gì có nghĩa với người, với đời, thì sống với ai?

Cũng như người ta thì chơn chất thật thà, hiền lương đạo đức, còn mình xảo ngữ lường gạt, không chút dạ nhơn từ, thì dầu cho người có tài tình đến mấy mà thiếu ba điều đó thì không thể gì sống với ai được hết, như vậy thì địa vị mình tại mặt thế nầy chưa rồi..../

&&&​

TRÍCH ĐOẠN.
KHAI MẠC
HỘI NHƠN SANH CỦA QUYỀN VẠN LINH.
Nữ Đầu Sư Đường ngày 30-08-Tân Mão (1951)​

Bần Đạo xin toàn cả nam, nữ tịnh tâm để nghe lời thuyết minh khai mạc hội nhơn sanh của Quyền Vạn Linh.
....
Người muốn lập thân danh phải lập Đức, lập Công, lập Ngôn.

- Lập Đức thì phải nhớ Đạo lý.

- Lập Công thì phụng sự Nhơn sanh.

- Lập Ngôn thì phải để hết trí óc tìm hiểu về triết học tinh thần, tìm tòi mọi lẽ cao sâu để thuyết minh chánh giáo.

Học đường là nơi con người học hỏi để Lập Ngôn.
Lập Đức là do đường Đạo lý.
Lập Công là do quyền Vạn Linh định đoạt.

Người biết dùng ba điều trên thì nên, còn không thì phải chịu mai một và do quyền Vạn Linh biết dùng họ thì họ mới lập công với Đạo được. ....

Cái phương hướng tương lai của Đạo, trọng, khinh, nên, hư, vinh, nhục, Bần Đạo gởi trọn trong tinh thần đạo đức rồi lại giao cho quyền Vạn Linh sử dụng...../.

(Còn tiếp...).
 
(tt bài trước: 04 nguồn....)​

4/ ĐƯỜNG VỀ BẠCH NGỌC KINH QUA THỂ PHÁP.​

Phần trên chúng tôi đã chọn lọc để trình bày một vài bài điển hình trong kho tàng ĐĐTKPĐ dạy cách về với Thầy qua: Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, văn bút của Đức Hộ Pháp.

Phần đường về Bạch Ngọc Kinh qua thể pháp là một đề tài rất lớn trong phạm vi bài viết chúng tôi xin phép giới thiệu một trong những thể pháp đó thật sơ lược là thể pháp trên đường về Bạch Ngọc Kinh khởi từ Thiên Thọ Lộ.

Đi từ quốc lộ 22 lên Tòa Thánh thì đường rẽ vào Thiên Thọ Lộ nằm bên phải (cách thị xã Tây Ninh khoản 16km). Đây là con đường đầu tiên dẫn trực tiếp đến Bạch Ngọc Kinh tại thế.
Đi từ Thiên Thọ Lộ về Tòa Thánh phải qua chợ Thiên Dương Thị rẽ trái vào Trường Xuân Lộ rồi đến An Nhàn Lộ, Ao Thất Bửu bên tay trái, kế liền đó là Đoạn Trần Kiều.
Qua Đoạn Trần Kiều là đến Trí Huệ Cung “Thiên Hỉ Động” (mặt tiền) đường vòng quanh hàn rào Trí Huệ Cung là Pháp Luân Lộ.
Qua Trí Huệ Cung (mặt hậu –Thiên Can Lộ) là đến Giải Khổ Kiều; rồi đến Tân Dân Thị.
Đến Trí Giác Cung “Địa Linh Động” (Đạo Pháp Vô Biên). Nhân loại đi trên TRUNG HÒA LỘ để đến Lộ Bình Dương Đạo rẽ phải là đi về Tòa Thánh (cửa số 7 hay cửa Hòa Tâm- đối diện với cửa Hòa Viện).
Tên các con đường kể từ Thiên Thọ Lộ trở đi như: Trường Xuân Lộ, An Nhàn Lộ, Pháp Luân Lộ, Thiên Can Lộ, Cảm Ứng Lộ, Trung Hòa Lộ... để đến Bạch Ngọc Kinh suy xét về đạo học đều có lắm nghĩa cao sâu.
Còn như đi thẳng khoản 01 km nữa thì đến Báo Quốc Từ. Là bước đi trên đường Huệ Kiếm Gươm Thần mà chúng tôi đã có dịp trình bày nơi đề tài NGHINH PHONG ĐÀI.
&&&

ĐOẠN TRẦN KIỀU.​

Đoạn Trần là dứt hẳn chuyện trần.
Đoạn Trần cũng còn có nghĩa là phân đoạn công việc của con người, tôn giáo và xã hội thành những phân khúc để giải quyết.
Cũng có nghĩa ĐOẠN ĐƯỜNG TRẦN RẤT ĐẸP.
Chữ Kiều có nghĩa là cầu mà cũng có nghĩa là đẹp.
Đẹp trong các phân khúc mang ý nghĩa hài hòa, không đem nhơn tình che lấp thiên lý, không đem thiên lý bóp chết nhân tình. Chữ Kiều thể hiện cho phẩm chất nhân văn trong từng phân khúc.
Kết hợp lại ta thấy nó phù hợp với thể pháp bên trên Đoạn Trần Kiều: Con hạc chở Thầy Trò Tôn Võ Tử bay từ Trí Huệ Cung ra: THÁNH LÂM PHÀM. (1).

Một trong những ý nghĩa của Thánh lâm phàm là bậc thế thiên hành hóa dấn thân vào xã hội hành đạo (đem đạo vào đời). Thế thiên hành hóa thì phải dứt hẳn phàm tánh; thân phàm (còn ăn uống còn xác phàm là phàm) nhưng ý thức, cách cư xữ phải theo khuôn luật của Hội Thánh. Bậc thiên phong mà còn phàm tánh thì không thể gì làm tròn nhiệm vụ (xem Thánh Lịnh số 638 của Đức Hộ Pháp).

TRÍ HUỆ CUNG – THIÊN HỈ ĐỘNG.
Trí định thiên lương qui nhất bổn.
Huệ thông đạo pháp độ quần sanh.”

Đức Hộ Pháp có giảng rõ: xây dựng Đền Thánh... là làm dùm thiên hạ. Xây dựng Trí Huệ Cung mới chính là nhiệm vụ của Hộ Pháp. Đó là nơi để đưa 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị. Hy vọng rằng phần trình bày kế đây góp phần làm sáng tỏ ý nghĩa lời dạy trên.

Quan sát Trí Huệ Cung ta thấy về kiến trúc rất đơn sơ; nhưng căn cứ vào lời dạy của Đức Hộ Pháp kết hợp với giáo lý ĐĐTKPĐ ta thấy được phần nào sự thâm sâu của Trí Huệ Cung trong đạo pháp.

Một trong những điều ghi nhận đầu tiên là: Cách cúng kiến, đọc kinh nơi Trí Huệ Cung có qui định riêng.
Cúng Tứ Thời đọc kinh như sau: Niệm Hương; Khai Kinh; Ngọc Hoàng Kinh; Phật Mẫu Chơn Kinh; Dâng Tam Bửu; Ngũ Nguyện chấm dứt. Không đèn nhang. Đạo Vô Vi, thờ cũng Vô Vi.

Đứng từ mặt tiền Trí Huệ Cung nhìn về Đoạn Trần Kiều, Ao Thất Bửu ta thấy có một cầu (Đoạn Trần Kiều) và một chợ (Thiên Dương Thị).

Mặt hậu có một cầu (Giải Khổ Kiều) và một chợ (Tân Dân Thị).

Bên tay phải có một cầu (Giải Oan Kiều) và một chợ (Long Hải Thị).

Bên tay trái có Sân bay Trí Huệ Cung.

Sân bay là gì? Đời gọi là phi trường nơi cho phi cơ lên xuống.... nhưng trong đạo học có nghĩa: CÁI SÂN SI BAY MẤT thì trí huệ hiện ra.

Ba mặt có một cầu và một chợ thì hẳn nhiên tên cây cầu và chợ vẫn là cái tên nhưng trong đó còn chứa đựng những ý nghĩa đạo học hay bí pháp thực thi để đạt đạo dành cho khách tầm chơn suy gẫm rồi viết thành giáo án, sữ chương đệ trình lên cho Hội Thánh ĐĐTKPĐ quyết định.

Tòa nhà Trí Huệ Cung có 04 mặt vuông vức 12m. Đường chung quanh 04 mặt Trí Huệ Cung có tên PHÁP LUÂN LỘ.

Khi xưa Đức Thích Ca đắc đạo giảng bài kinh đầu tiên cho các đệ tử gọi là Kinh Chuyển Pháp Luân. Nay Trí Huệ Cung con đường xung quanh có tên Pháp Luân Lộ có liên quan ý nghĩa về đạo học chi chăng?.

Chánh tự của ĐĐTKPĐ là Tiếng An Nam. Trong tiếng An Nam thì chữ kiều có nghĩa là cầu (kiều lộ) mà chữ kiều cũng có nghĩa là đẹp.

Chữ lộ có nghĩa là con đường cũng có nghĩa phơi bày ra, hiện ra nhiều người thấy (lộ thiên). Vậy Pháp Luân Lộ cũng có nghĩa là pháp luân chuyển (hóa sanh) bày ra trước mắt.

Chữ sân bay có nghĩa là phi trường. Chữ Sân cũng có nghĩa là một chữ trong chữ Sân Si. Sân Si bay mất (không còn) thì Cảm ứng Lộ ra và Trí Huệ (Phật Tánh) chiếu diệu.

Chữ sân trong cái nghĩa người chết để quan tài quay đầu ra ngoài sân (Hội Thánh ĐĐTKPĐ căn cứ vào phong tục nhà Nam trả lời cho người Đạo) bao hàm ý nghĩa bỏ cái sân ra ngoài để giải thoát (và không gây phản cảm cho người kỉnh lễ khi viếng tang....).

Hội Thánh hướng dẫn như thế nhưng bởi có nhiều nơi có phong tục để quay đầu vô nhà nên Hội Thánh không hề bắt buộc phải quay ra hay quay vô mới hành đám hay giới hạn kinh kệ. Đó là cách giải quyết thấu tình đạt lý.

Tòa nhà có mặt tiền mặt hậu nhưng kiến trúc từ vòng rào đến đường vào tòa nhà có 04 mặt như nhau. Thể hiện cho Pháp (hay tính) công bình: đi vào thì đường nào cũng về đạo pháp; đi ra thì tùy vào cơ duyên mình sở hữu mà phụng sự. (Như khi cúng Phật Mẫu thì chỉ mặc đạo phục đồng nhất dành cho Đạo Hữu Nam, Nữ không mặc theo phẩm tước chức việc hay chức sắc).

Tòa nhà hai tầng có nơi thờ cúng tượng cho Thượng Ngươn Thánh Đức (con người còn nhiều tánh thánh). Căn nhà trệt nơi ăn, nghĩ tượng cho thời trung ngươn (ngươn tranh đấu lòng tìn ngưỡng đã giảm). Nhà cầu phía sau tượng cho hạ ngươn mạt pháp (phải xã bỏ).

Kế đó là 09 đường bán nguyệt (xưa trồng hoa Huệ nay không rõ thế nào?) tượng cho Cửu Phẩm Thần Tiên.... Ra khỏi Trí Huệ Cung mặt hậu tên đường là Thiên Can Lộ.

Ngày khánh thành Trí Huệ Cung có người hiến kiểng trong chậu Đức Hộ Pháp giải thích: Nơi Trí Huệ không có kiểng (trong chậu) mà hoa kiểng phải đứng tự nhiên trong đất.

Mấy năm trước chúng tôi có đến Trí Huệ Cung kỉnh lễ thấy kiểng trong chậu rất nhiều...như vậy lời Ngài dạy để đâu?

Chổ nghĩ của Đức Hộ Pháp khi xưa đơn sơ nay các vị quản lý ở đó đem mùng, mền, gối và nệm dày cả gang tay mới tinh lên để đó rồi bảo là nơi Đức Hộ Pháp ngủ... thời của Ngài không có những nhà sản xuất các mặc hàng đó...sao lại gán là Ngài dùng những mặc hàng đó được? ấy là người sau gieo tiếng oan cho Ngài đó vậy. (2)
&&&​

Trong quyển LUẬT TAM THỂ Đêm 10 tháng giêng Nhâm-Thìn (1952). Bà Bát Nương có dạy:
Chị chào mấy em,
Đêm nay Chị đến đặng chỉ cho mấy em được rõ Diêu-Trì-Cung là nơi nào?
Nơi Ao Diêu-Trì có một đài phát hiện Âm-Quang, đài ấy thâu lằng sanh-quang của Ngôi Thái-Cực, rồi đem Dương-quang hiệp với Âm-quang mà tạo nên Chơn-Thần cho vạn-linh trong càn-khôn vũ-trụ.
Phật-Mẫu là Đấng nắm cơ sanh hóa, thay quyền Chí-Tôn, đứng ra thâu cả Thập-Thiên- Cang đem hiệp với Thập-Nhị Địa-Chi mà tạo nên vạn-vật. Nơi Cung Diêu-Trì là nơi tạo nên Chơn-Thần và thể-xác đó vậy.

Diêu-Trì-Cung là cung điện bằng ngọc Diêu ở bên Ao Thất-Bữu chớ chẳng chi lạ. Ngọc tượng trưng cho sự quý giá, còn Diêu là chất hơi kết-tụ mà thành.
Dưới quyền của Phật-Mẫu có Cửu Tiên-Nương trông nom về cơ giáo-hóa cho vạn-linh, còn ngoài ra có hằng hà sa số Phật, trông nom về cơ phổ-độ mà Quan-Âm Bồ-Tát là đấng cầm đầu.
Quan-Âm Bồ-Tát ngự tại Cung Nam-Hải ở An-Nhàn-Động. Còn Diêu-Trì-Cung thì ở tại Tạo-Hóa Huyền-Thiên.
Nơi Cung Diêu-Trì còn có một cõi Âm-quang riêng biệt gọi là Phong-Đô đặng giáo-hóa các Chơn-Thần đã bị lạc nẽo trên đường trần.
Vậy vắn tắt hơn, Diêu-Trì-Cung là cơ sanh-hóa vạn-linh và vạn-vật đó. Chị sẽ đến dạy thêm vào kỳ tới.
Chị xin kiếu.

&&&​

Trí Huệ Cung cách Ao Thất Bửu một con suối, nối liền hai bờ suối là Đoạn Trần Kiều. Như vậy Trí Huệ Cung phải chăng là DIÊU TRÌ CUNG TẠI THẾ?.

Câu Nơi Cung Diêu-Trì là nơi tạo nên Chơn-Thần và thể-xác đó vậy. Chính người mẹ là người tạo nên thể xác cho một hài nhi.
Còn tình cảm của hài nhi phải chăng cũng chịu ảnh hưởng phần lớn nơi người mẹ nên trong thời gian mang thai người xưa có dạy: THAI GIÁO. Mà tình cảm là một phần trong chơn thần.

Bài dạy trên đây cũng cho biết: Quan-Âm Bồ-Tát ngự tại Cung Nam-Hải ở An-Nhàn-Động.

Đường từ Trí Huệ Cung qua Đoạn Trần Kiều có tên An Nhàn Lộ; Ao Thất Bửu nằm trên đường An Nhàn Lộ.
Đó là một chỉ dấu nữa cho biết Trí Huệ Cung chính là Diêu Trì Cung tại thế.

Thêm nữa Đức Hộ Pháp có dạy rõ: Trí Huệ Cung là nhà tịnh của Nữ Phái. Mà Nữ Phái thì hẳn nhiên gắn liền với Diêu Trì Cung để tạo nên chơn thần và thể xác cho con người khi nhập thế.

[[[[Ngài Hồ Bảo Đạo cũng có giảng rằng: các Thánh khi nhập thế đều có qua Cung Diêu Trì.]]]]

XIN ĐỔI ĐOẠN TRONG DẤU [[[[ ....]]]] NẦY THÀNH ĐOẠN:

Ngày 04- 01- 1926. Thầy đã nói Thầy là A.Ă. còn Cung Diêu Trì là Cung Diêu Trì các Thánh đều có quả, ấy là những Ðấng Thầy lựa sai đến dạy dỗ mấy con, đừng triệu thường, vì mỗi người đều có phận sự.
Chư Tiên và Chư Thánh đều có quả, song đừng triệu về mà chơi, kỳ dư có điều gì học hỏi.…

(THÀNH THẬT CÁO LỖI)
&&&​

CON TIẾP: PHÀM NHẬP THÁNH; THÁNH LÂM PHÀM.
 
Sửa lần cuối:

dong tam

New member
Văn Chí viết:
"Chổ nghĩ của Đức Hộ Pháp khi xưa đơn sơ nay các vị quản lý ở đó đem mùng, mền, gối và nệm dày cả gang tay mới tinh lên để đó rồi bảo là nơi Đức Hộ Pháp ngủ... thời của Ngài không có những nhà sản xuất các mặc hàng đó... sao lại gán là Ngài dùng những mặc hàng đó được? ấy là người sau gieo tiếng oan cho Ngài đó vậy."

Ở góc độ về Khoa học Bảo tàng, đây là căn bệnh chung của nhiều ngừơi Việt hiện nay! Thích làm mới, đánh bóng hình tướng vật chất mà không ý thức đến cái "hồn" với nét dáng cỗ rêu phong!

Đi qua vài Thánh thất có nguồn gốc từ Phật giáo quy sang Cao Đài, thấy đạo hữu cũng sẳn sàng phá bỏ "dấu xưa xe ngựa hồn thu thảo" để xây dựng mới toàn diện chứ không chịu tân trang đồ cỗ!

Âu cũng là vấn đề dân trí. (văn hóa)

Chuẩn bị cho kỷ niệm 100 năm Cao Đài giáo, những tưởng việc sưu tập những cỗ vật (kinh sách, vật thờ cúng, v.v...) là cần thiết biết bao.
 

Tindo

New member
Chào huynh tranvanchi
Tindo ở nhà riết, hổng đi đâu hết nên chẳng biết gì. Hôm nay, đọc mấy bài viết của huynh Văn Chí mới biết đôi chút về Tòa Thánh Tây Ninh. Không ngờ kiến trúc của Tòa Thánh lại mang nhiều ý nghĩa về thể pháp
Tự dưng Tindo muốn đến viếng Tòa Thánh ghê luôn vậy đó. Hy vọng, với số may mắn hơn người của mình, khi đến Tòa Thánh Tindo sẽ gặp những người bạn đạo thật hòa đồng (chứ không phải những người có "đôi mắt" kỳ thị chi phái như huynh Trung ngôn và các huynh, tỷ trên diễn đàn này đã gặp)
 
Phàm nhập thánh và thánh lâm phàm.


(tt).

(1): PHÀM NHẬP THÁNH- THÁNH LÂM PHÀM.
“hai mặt của một bàn tay”.​

Theo kiểu mẫu của Đức Hộ Pháp phát họa thì Đoạn Trần Kiều có mái che mát (theo kiểu chùa Cầu phố cổ Hội An Đà Nẳng). Trên nóc nhà mát làm một con hạc chở thầy trò Tân Dân Tử và Tôn Võ Tử bay từ ngoài vào Trí Huệ Cung; ấy là PHÀM NHẬP THÁNH.
Nhưng khi thực hiện các vị công quả bố trí con hạc bay từ Trí Huệ Cung ra; ấy là THÁNH LÂM PHÀM.
Khi Đức Hộ Pháp đi Đài Loan về (1954) phát hiện, các vị rất lo sợ xin sửa lại. Đức Ngài dạy: Con hạc bay về Trí Huệ Cung là thể hiện cho phàm nhập thánh. Các con lại làm con hạc từ Trí Huệ Cung bay ra là thể hiện cho thánh lâm phàm. Việc các con quên không làm theo ý Thầy nhưng âu cũng là thiên ý chớ chẳng phải do các con. Cứ để vậy.
&&&​
Phàm Nhập Thánh và Thánh Lâm Phàm là 02 khái niệm khác nhau. Nhưng cõi thánh bắt đầu từ đâu? Phải chăng cõi thánh từ cõi phàm mà ra. Cõi phàm là trần gian, là cõi phàm trần hay cõi trần.
Cõi trần là chi? Khách trần là sao? Sao gọi khách?
Trần là cõi khổ, để đọa bậc Thánh, Tiên có lầm-lỗi. Ấy là cảnh sầu để trả xong quả, hoặc về ngôi cũ, hoặc trả không xong quả, phải mất cả chơn-linh là luân-hồi, nên kẻ bị đọa-trần gọi là khách trần.

(TNHT Q2 bài đầu)​

Như vậy cõi phàm và thánh khác nhau nhưng chủ thể trong cõi phàm và thánh lại là một (khi là thánh, tiên thì ở cõi thánh; khi phải đọa thì đến cõi trần). Do đó đi vào thực tế đạo học để làm rõ công án thế nào là Phàm Nhập Thánh và Thánh Lâm Phàm ta thấy nó chỉ là hai mặt của một bàn tay.

Về kiến trúc thể pháp từ Phàm Nhập Thánh (xuất hiện trước-không ai thấy bởi vì chưa thực hiện) biến thành Thánh Lâm Phàm (cái hiện hữu: xuất hiện sau và đã làm và đã thấy ấy là hữu hình) hiểu theo đạo học là một hữu một vô.
Không có ý tưởng làm con hạc thì không đề xuất được làm con hạc bay vào Trí Huệ Cung. Dặn dò là như thế nhưng khi thực hiện thì con hạc lại bay ra. Ý nghĩa hữu và vô biến hóa khôn lường là vậy.

Theo Đạo Đức Kinh thì:
Hữu Vô tương sanh. Hữu hình và vô vi như đôi chân của một cơ thể hể chân nầy bước một bước thì chân kia cũng phải bước theo. Thấy hữu hình phải tìm đến vô vi, tìm đến vô vi phải căn cứ vào hữu hình cho khỏi sa vào hoang tưởng, ảo ảnh.

Nhưng xét đến nguồn gốc thì: Hữu sanh ư Vô. Cái hữu hình phát sinh từ vô hình. Từ ý tưởng mới phát họa ra hình thể hay bằng lời nói hay tạo nên văn bút...cái vô hình (ý tưởng) quyết định phải thể hiện ra sao. Nhưng khi cái hữu hình đã thể hiện thì căn cứ vào đó mà phân tích, tìm hiểu thì hiểu được phần nào ý chí, tâm tư, tình cảm hay thông điệp chứa đựng trong đó.
&&&​

Trong câu chuyện Thầy Trò Tân Dân Tử và Tôn Võ Tử cưỡi hạc ta thấy: Thầy tượng cho chơn linh; Trò tượng cho chơn thần; Con Hạc tượng cho xác thân.

Thầy muốn đưa trò đến nơi giải thoát (chơn linh). Trò còn nặng mang tình cảm (chơn thần còn nặng). Con hạc bay không nổi nữa sa xuống. Con hạc vốn tượng trưng cho sự thanh cao và mạnh mẽ. Trong trí não dân gian thì con hạc gắn liền với bậc thượng đẳng, giải thoát (cưỡi hạc qui tiên) hay thần tiên. Những bức tranh có vẽ con hạc thường được đặc vào nơi trang trọng.

Cho dù xác thân được thanh lọc (bằng thảo mộc) nhưng thất tình lục dục còn nặng thì con hạc cũng phải theo qui luật mà sa xuống. Con hạc sa xuống hay bay được là do chơn thần nặng hay nhẹ (trò) không phải do chơn linh (thầy).

Kinh Đệ Lục Cửu:
Minh Vương Khổng Tước cao bay;
Đưa chơn thần đến tận đài Huệ Hương.

Ngài Hồ Bảo Đạo giải thích Minh Vương Khổng Tước là con công. Cho dù con công đưa chơn thần đi hay con hạc đưa thầy trò Tân Dân Tử thì yếu tố quyết định vẫn là chơn thần (thanh hay trược).

Theo Ngài Hồ Bảo Đạo giảng dạy thì Đệ Nhứt Cửu và Đệ Nhị Cửu chưa bước vào các tầng Trời. Phải đến Đệ Tam Cửu mới bước vào tầng thiên thứ nhất, cứ vậy tính tới nên đến Đệ Lục Cửu thì còn ở tầng Trời thứ tư. Xong rồi mới sang Đệ Thất Cửu là tầng Trời thứ năm.
&&&​

Theo thứ tự Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, sau các bài kinh cúng tứ thời là đến Phật Mẫu Chơn Kinh (PMCK). Kể từ PMCK thì đã đề cập đến Diêu Trì Cung.
Tạo Hóa Thiên Huyền Vi Thiên Hậu.
Chưởng kim Bàn Phật Mẫu Diêu Trì.
&&&​

Theo bài giảng của Ngài Hồ Bảo Đạo về các tuần cửu có đoạn:
Đến Đệ Cửu-Cửu, linh-hồn đến tầng Trời thứ bảy là Tạo-Hoá Thiên. Nơi đây là Cung Diêu-Trì có hằng-hà sa số Phật với 4 vị Phật chánh, và Cửu-Vị Nữ-Phật đều tùng linh Kim-Bàn Phật-Mẫu, có nhiệm vụ dưỡng-dục quần sanh qui-nguyên Phật-Vị, linh-hồn làm xong phận-sự, về đến Tạo-Hóa Thiên vào triều-kiến Đức Phật-Mẫu sẽ được Đức Mẹ ân-thưởng dự Hội Bàn-Đào và được ban cho Tiên-Tửu. Xong rồi được đưa qua Cung Bắc-Đẩu để xem căn quả số, vào Linh-Tiêu-Điện đặng học triều-nghi chờ ngày ra trước Ngọc-Hư-Cung định phần đọa thăng. Những linh-hồn còn nặng nợ vay trả thì đưa qua Kim-Bồn đầu-kiếp trở lại đặng trả quả.
&&&​

Đầu kiếp trở lại đặng trả quả (vì còn vướng nợ phàm trần) thì phải từ bụng mẹ mà chào đời. Không ai qua khỏi luật định ấy đặng.

Đến Kinh Giải Oan có đoạn:
Nhập Thánh Thể dò đường cựu vị,
Noi chơn truyền khử quỉ trừ ma.
Huệ quang chiều thấu chánh tà,
Chéo thuyền bát nhã Ngân Hà độ sanh.

Theo thiễn ý Kinh Giải Oan có thể hiểu theo 03 đoạn:

Đoạn một: dạy cho biết lục dục thất tình ảnh hưởng đến chơn linh (Thầy có dạy vui cũng nên vui, buồn cũng nên buồn nhưng đừng để nọc vui buồn thắm vào chơn tánh- “đệ tam xác thân”).

Đoạn hai: dạy cho biết chơn thần bị nặng nề khi chìu theo theo những thú vui vật chất. Khi không thắng được những ham muốn vật chất tầm thường thì chơn thần bị nặng nề nên phải đến phong đô đề tỉnh thức.

Đoạn ba: đề cập đến xác phàm phải theo khuôn thước để thanh lọc, phải tuần tự nhi tiến (Đệ Nhứt xác thân).

(còn tiếp).
 
Thế nào là nhâp thánh thể? (phàm nhập thánh).

(tt)​

Thế nào nhập thánh thể? (Phàm nhập Thánh).​
Theo thiễn nghĩ có nhiều cách hiểu.

Cách một: có 02 giai đoạn.
Người nhập môn cầu đạo là đã bắt đầu nhập vào Thánh Thể.
Còn như hiểu phải vào hàng chức sắc thiên phong mới vào hàng thánh thể đó cũng là cách hiểu nhập vào thánh thể theo nghĩa hành chánh trong tôn giáo.

Cách hai: Khi đầu kiếp lại cõi trần là đã nhập thánh thể.
Đức Hộ Pháp giảng nhiều lần rằng Thánh thể Đức Chí Tôn không phải chỉ có chức sắc thiên phong cho tới con nít còn trong bụng... cũng là Thánh Thể.
Vì sao cho đến thai nhi còn trong bụng mẹ cũng được xếp vào Thánh Thể? Đó chính là hiểu theo đạo học vậy.
Kinh Tắm Thánh có đoạn:
Xin gìn giử thánh hình thanh sạch,
Xin xá ân rữa sạch tiền khiên.
Căn xưa ví dữ cũng hiền,
Dầu ra cửa tội đủ quyền cao siêu.

Sanh tử như một bàn tay thì Thánh Lâm phàm và phàm nhập thánh cũng chỉ là hai mặt của cùng một công án: LẬP VỊ.
&&&​
Trong Bài Kinh Cầu Hồn Khi Hấp Hối có đoạn:
Diêu Trì Cung sai nàng tiên nữ,
Phép Lục Nương gìn giử chơn hồn.
Tây Phương Tiếp dẫn Đạo Nhơn,
Phướn linh khai mở nẽo đường Lôi Âm.
&&&​

Người tín đồ ĐĐTKPĐ ăn chay từ 10 ngày trở lên được thọ truyền bữu pháp (theo lời Thầy tiên tri). Người trong diện được thọ truyền bữu pháp khi đọc bài kinh tẩn liệm được gọi là NHẬP MẠCH. Từ người đạo hữu (đưa thi hài vào quan tài) cho đến Giáo Tông (đưa thi hài vào liên đài theo tư thế kiết dà) đều được gọi chung là nhập mạch.

Người ăn chay dưới 10 ngày (hay không ăn chay) cũng làm bấy nhiêu công việc đó, cũng đọc bài kinh đó nhưng gọi là TẨN LIỆM.

Cùng một bài kinh, cùng một số công việc có khi hoàn toàn giống nhau (không liệm liên đài) gần giống như nhau (khi liệm bằng liên đài) nhưng tên gọi khác nhau.
+ Trong bài Kinh Tiểu Tường có đoạn:
Ao Thất Bửu gội mình sạch tục,
Ngôi liên Đài quả phúc Dà Lam.
Vạn Linh trổi tiếng mừng thầm,
Thiên thơ Phật tạo độ phàm giải căn.
&&&
Tụng Kinh Tiểu Tường hẳn nhiên dành cho người mất.
Tính từ khi người mất qua 09 lần tụng cửu là 81 ngày (9x9=81).
Đếm tới 200 ngày nữa là đến tiểu tường. Vị chi là 281 ngày.
Con số nầy tuyệt đối chính xác.
Nhưng nếu đem so sánh với thời gian thai nhi còn trong bụng mẹ ta thấy rất đáng để suy gẫm.
+ Thường thì bào thai ở trong bụng mẹ là 9 tháng 10 ngày.
09 tháng x 30 ngày = 270 ngày.
Cộng thêm 10 ngày; tính ra là 280 ngày.
Con số nầy chỉ là tương đối vì có người sanh sớm, sanh muộn...
Tính trên lý thuyết thì 02 con số: 281 ngày và 280 ngày chênh lệch 01 ngày.
Vậy thì hai việc nầy có liên quan nhau chăng?
Và có liên quan đến Ao Thất Bữu chăng?
Liên quan đến Diêu Trì Cung chăng?

Theo chúng tôi là có.
Kinh điển dạy rõ xuống thế gian hay từ giả thế gian đều có qua Diêu Trì Cung.

Vậy hai việc khi mất và khi sanh cái nào là hữu cái nào là vô?
Trong hữu hình thì có vô vi ẩn chuyển (khi sanh). Ta thấy hài nhi chào đời (hữu hình) nhưng không biết phần vô vi ẩn trong việc đầu kiếp của thai nhi.

Trong vô hình thì có hữu vi làm mốc (khi chết). Người chết ta căn cứ vào chay lạc, vào phẩm vị lúc sinh tiền mà thiết nghi lễ, tụng cửu.... nhưng việc đủ công nghiệp để về đến nơi hay nữa đường xét thấy còn nợ trần phải đầu kiếp trả quả....

Đâu là phàm nhập thánh đâu là thánh lâm phàm?
Cả hai luân chuyển hóa sanh nhau rất khó mà luận ra cho hết chỉ có thể lý hội mà thôi không thể chứng minh được.

Nó cũng giống như công án có Thượng Đế hay không có thượng Đế là vấn đề chỉ có thể lý hội qua kinh nghiệm sống hay nhận thức của từng người chớ không thể chứng minh được.
Đạo Thầy nhược thiệt nhược hư là như vậy.
Thầy không nhơn thân phàm ngữ nên thiệt thiệt hư hư.
Có Trời hay không có Trời là vấn đề từ muôn thuở và tồn tại mãi mãi.

&&&
Trong TNHT Q2 trang 91 bản in 1963 cũng có bài của Bà Thất Nương Diêu Trì Cung dạy về Âm Quang.
Trong Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống Đức Hộ Pháp có nhiều bài giảng Diêu Trì Cung.
Bài số 07 đêm 29 tháng 9 năm Mậu-Tý (31-10-1948)....có dạy về sông ngân hà:
Bên kia có liên tiếp mật thiết vô một nẻo sông Ngân-Hà, rồi Bần-Đạo chỉ cho hiểu rằng, từ khổ hải ấy về cảnh Thiêng-Liêng Hằng-Sống phải đi ngang qua Ngân-Hà, có một chiếc thuyền Bát-Nhã của Đức Quan-Âm Bồ-Tát, vâng lịnh Đức Di-Lạc Vương-Phật chèo qua lại sông Ngân-Hà và khổ hải đặng độ sanh thiên-hạ.

Bên trên chúng tôi có nhắc rằng 03 phía của Trí Huệ Cung đều có một cầu và một chợ. 03 cây cầu (Đoạn Trần Kiều, Giải Khổ Kiều, Giải Oan Kiều) đều bắt qua suối nó có cho chúng ta liên tưởng đến SÔNG NGÂN HÀ của Đức Hộ Pháp giảng trên đây chăng?

Duy chỉ có phía SÂN BAY là không có cầu hay chợ (lại gắn liền với Cảm Ứng Lộ) bởi vì người hành đạo mà ĐẠT CẢNH GIỚI KHÔNG CÒN SÂN SI thiễn nghĩ đó là người đã thân chứng được trí huệ; là người đã đạt pháp vậy.

Tam Thế Phật trên Bát Quái đứng về 03 hướng chưa trống hướng Đông là hướng của ánh thái dương (Đạo).
Trí Huệ Cung 03 hướng đều có một cầu một chợ, chỉ có hướng sân bay là không có (trống).

Một đàng là trống để nhận ánh thái dương.
Một đàng là trống để cho cái SÂN SI bay mất.
Có phải là nhứt âm nhứt dương chăng?

TNHT có dạy: Khai Đạo muôn năm trước định giờ.
Chổ tháp Đức Cao Thượng Phẩm có cây ba nhánh, nay đã chết không còn dấu vết... nhưng cái cây ba nhánh ấy tồn tại mãi trong lòng người học đạo khi đọc bài Thầy dạy về việc Đức Cao Thượng Phẩm phải về Thiêng Liêng vị để đem chơn hồn vào cửa Thiên và dạy xây tháp phía trước cây ba nhánh day mặt về Đông như ngó vào điện mà hầu Thầy vậy....

Khi tìm đất lập Tòa Thánh Thầy dạy: chi chi cũng tại Tây Ninh... Trí Huệ Cung được lập nơi PHONG THỦY TUYỆT VỜI như thế có phải là được ăn theo câu trên chăng?
Thầy đã chọn nơi tuyệt vời đủ tài nguyên và môi trường cho ĐĐTKPĐ trong thất ức niên nay còn chờ tay môn đệ của Ngài nơi năm châu bốn biển chung tay nhau kiến thiết.
&&&

Trần Văn Chí.
Email: hoabinhchungsong220513@yahoo.com
facebook:
http://www.facebook.com/profile.php?id=100005939084186


(CÒN TIẾP....HỘ PHÁP TỊNH ĐƯỜNG)....
 

Facebook Comment

Top