<P><FONT color=#000066> Xin mạn phép tóm gọn lại "Lý lịch trích ngang" các bài kinh tứ thời như sau:</FONT></P>
<P><FONT color=#000066>Khi mới khai ÐÐTKPÐ, Ðức Chí Tôn giáng dạy Ngũ Chi Minh Ðạo (Minh Sư, Minh Lý, Minh Tân, Minh Thiện, Minh Ðường) dâng Kinh cho ÐÐTKPÐ. Do đó, Hội Thánh cử phái đoàn đại diện gồm 4 vị: Ðức Quyền Giáo Tông Lê văn Trung, Thượng Giáo Sư Vương quan Kỳ, Ðức Phạm Hộ Pháp, Ðức Cao Thượng Phẩm, đến Chi Minh Lý thỉnh 6 Bài Kinh ( Niệm Hương, Khai Kinh, Kinh Sám Hối, Bài Khen Ngợi KSH, Kinh Cầu Siêu, Bài Xưng Tụng Công Ðức Phật Tiên Thánh Thần) về làm Kinh ÐÐTKPÐ. Ngũ Chi Minh đạo là các phái chuyên tu hành tham thiền nhập định, công phu huyền pháp theo Lão Giáo. Ngài Lê Văn Lịch là Thaí lão sư (chưởng môn) của Minh sư được ơn trên Thiên Phong Ngọc Đầu Sư và phụng soạn kinh cúng tứ thời. Hai Ngài Đầu sư Thượng Trung Nhựt và Ngọc Lịch Nguyệt cũng là những người đầu tiên giải nghĩa sơ lược các bài kinh nhựt tụng này.</FONT></P>
<P><FONT color=#000066>Xem thêm nguồn gốc và giải nghĩa tại: </FONT><A href="http://caodaiebook.net/4002/103-gnktdtd.htm" target="_blank"><FONT color=#000066>http://caodaiebook.net/4002/103-gnktdtd.htm</FONT></A></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066><FONT color=#990000><strong>1* Kinh Niệm Hương</strong> </FONT>có nguồn gốc là bài Kinh chữ Hán "Phần Hương Chú" trích trong Kinh Cảm Ứng của Tiên giáo. Vào năm Ất Sửu (1925), Ðức Nam Cực Chưởng Giáo giáng cơ tại Minh Lý (Tam Tông Miếu) dịch bài Phần Hương Chú ra chữ Nôm ban cho Chi nầy cho dễ hiểu.</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066><strong><FONT color=#990000>2* Bài Khai Kinh</FONT></strong> có nguồn gốc là bài Kinh chữ Hán, tựa là KHAI KINH KỆ trong quyển Kinh Huyền Môn Nhựt Tụng từ bên Tàu truyền sang nước ta. Vào năm Ất Sửu (1925), Ðức Lữ Tổ giáng cơ tại Chi Minh Lý, diễn nôm bài Khai Kinh Kệ nói trên, ban cho Chi nầy làm bài Khai Kinh để tụng trước khi tụng Kinh Sám Hối.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#000066><strong><FONT color=#990000>3* Kinh Ngọc Hoàng Thượng Ðế</FONT></strong>, còn được gọi là Ngọc Hoàng Thiên Tôn Bửu Cáo, hay vắn tắt là Ngọc Hoàng Bửu Cáo, do Ðại Tiên Lữ đồng Tân, thường gọi là Lữ Tổ, tước hiệu Phu Hựu Ðế Quân, một vị trong Bát Tiên, giáng cơ ban cho ở bên Trung Hoa, sau đó mới truyền sang VN. </FONT><FONT color=#000066>Bài Ngọc Hoàng Bửu Cáo có in trong quyển Kinh: "Quan Thánh Ðế Quân Cứu Kiếp Vĩnh Mạng Kinh", và có cho biết xuất xứ của bài Kinh nầy như sau:</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#000066>"Quang Tự Tân Mão, cửu ngoạt, sóc, Quan Ðế thỉnh Phu Hựu Ðế Quân giáng tác thử cáo, phú tụng dĩ kính Thiên Ðế". </FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#000066>Nghĩa là: Niên hiệu Quang Tự (nhà Thanh), năm Tân Mão, tháng 9, ngày mùng 1, Ðức Quan Thánh thỉnh mời Ðức Phu Hựu Ðế Quân giáng cơ viết ra lời cáo nầy, để cho người tụng kinh biết mà tôn kính Ðấng Thượng Ðế.</FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#000066>Ðối chiếu niên lịch, năm giáng cơ ban cho Kinh Ngọc Hoàng Bửu Cáo là năm thứ 17 đời vua Ðức Tông nhà Thanh, niên hiệu Quang Tự, ngày 1-9-Tân Mão, tương ứng với dương lịch là ngày 3-10-1891. </FONT></P>
<P =THAN1><FONT color=#000066><FONT color=#990000><strong>4* Ba bài kinh Tam giáo:</strong> </FONT>Kinh Phật giáo, Kinh Tiên giáo, Kinh Nho giáo, do các Ðấng Thiêng liêng giáng cơ ban cho ở chùa Hàn Sơn Tự, nơi Cô Tô Thành, bên Trung Hoa, rồi sau đó mới truyền qua Việt Nam.</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>Thời gian các Ðấng TL ban cho Kinh Tam giáo, theo các bậc tiền bối kể lại, là trong thời Nhà Thanh, đời vua Thanh Nhơn Tông, niên hiệu Gia Khánh (1796 - 1820) và đời vua Thanh Tuyên Tông, niên hiệu Ðạo Quang (1821 - 1851).</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066><strong><FONT color=#990000>5* Ba bài dâng Tam bửu:</FONT></strong> các bài kinh Ngọc Hoàng bửu cáo và Tam giáo thì y khuôn nhưng đến bài dâng tam bửu thì có sự khác nhau như sau:</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066> - Ðầu năm Bính Dần (1926), Ðức Chí Tôn dạy 3 vị: Lê Văn Trung, Phạm Công Tắc và Cao Quỳnh Cư đến nhà của Quan Phủ Ngô Văn Chiêu ở gần chợ Sài gòn để Ngài chỉ cho vẽ Thiên Nhãn thờ Ðức Chí Tôn và cách thờ phượng. Ngài Ngô Minh Chiêu chỉ cho 3 vị thấy cách thờ Thiên Nhãn, rồi trao cho 3 vị 3 bài Kinh: Dâng Hoa, Dâng Rượu, Dâng Trà, để cúng Ðức Chí Tôn, và bài Kinh Cầu cơ "Trời còn...". </FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>Bài dâng hoa: "Hoa tươi năm sắc..."</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>Bài dâng rượu: " Tửu vị hương..."</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>Bài dâng trà: "Đông độ thanh trà.... "</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>(Ba bài này đến nay thấy phái Chiếu Minh, Tiên Thiên và một vài chi phái khác còn sử dụng)</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>- Ðến đầu năm Kỷ Tỵ (1929), Ðức Phạm Hộ Pháp có xin với Bát Nương ban cho 3 bài Kinh Dâng Tam Bửu mới để thế cho 3 bài cũ của Ngài Ngô Văn Chiêu, nhưng Ðức Phạm Hộ Pháp được trả lời là nên để cho Hội Thánh đặt ra để Dâng Tam Bửu lên Ðức Chí Tôn thì mới hợp lẽ.</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>Do dó, Ðức Phạm Hộ Pháp chỉ định Ngài Bảo Văn Pháp Quân Cao Quỳnh Diêu đặt ra 3 bài nầy, rồi cầu Bát Nương chỉnh văn lại, xong dâng lên Ðức Chí Tôn duyệt, rồi chuyển qua cho Ðức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung bên Cửu Trùng Ðài ban hành ra cho toàn đạo.</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>Ngày 17-6-Canh Ngọ (dl 12-7-1930), Ðức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung (lúc đó còn là Ðầu Sư Thượng Trung Nhựt) ban hành quyển "Nghi tiết đại đàn tiểu đàn.....", trong đó có ban hành 3 bài Dâng Tam Bửu mới :</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>Bài dâng hoa: "Từ bi giá ngư...."</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>Bài dâng rượu: " Thiên ân huệ chiếu....."</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>Bài dâng trà: " Mai xuân nguyệt cúc.."</FONT></P>
<P =text00Ji><FONT color=#000066>(Ba bài này hiện nay Tây Ninh, Ban Chỉnh Đạo và một số chi phái khác sử dụng)</FONT></P>
<P =text00Ji> </P>
<P =text00Ji> </P>