TAM CÔNG

dong tam

New member
Chúng ta hãy cùng nhau tìm hiểu xem điều căn bản chánh yếu của công quả là gì.

1. Năm 1927, ở cuối quyển “Luận Đạo Vấn Đáp của Ngài Nguyễn Trung Hậu” cho phát hành vào đầu tháng 9, Ngài Bảo Pháp Hiệp Thiên Đài có viết lời giải thích về ý nghĩa cách bái lạy:

Nay Đạo đã hoằng khai thì như bông sen đã nở rồi sanh trái, gọi là kết quả. Ấy là hai tay ôm tròn lại như trái cây vậy. Mà kết quả rồi không (được) phép hưởng riêng một mình, phải gieo ra cho chúng sanh chung hưởng, gọi là phổ độ.

Vì vậy mà khi cúi lạy phải xòe hai bàn tay ra như gieo hột vậy
...”

Cũng trong năm này, bài kinh Ngũ Nguyện bắt đầu xuất hiện, trong đó chúng ta thấy có những câu như: “Nhất nguyện Đại Đạo hoằng khai, Nhì nguyện phổ độ chúng sanh…”!
 

dong tam

New member
2. Những cụm từ “phổ độ” hay “phổ độ chúng sanh” được đúc kết từ những lời Thánh Ngôn của Đức Chí Tôn. Chúng ta hãy tìm hiểu qua Thánh Ngôn Hiệp Tuyển bổn thứ nhứt, quyển kinh tổ Cao Đài.

Từ khi mới lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn đã dạy những gì về Công Quả?:

▪ “Một trường thi công quả, các con muốn đến đặng nơi Cực Lạc thì phải đi tại cửa này mà thôi. Thầy lại khuyên nhủ các con rằng: Thầy đã đến chung cùng với các con các con duy có tu mà đắc đạo; phải đoái lại bá thiên vạn ức nhơn sanh còn phải trầm luân nơi khổ hãi chưa thoát khỏi luân hồi, để lòng từ bi mà độ rỗi.” (04.8.1926)

▪ “Còn chư môn đệ đã lập minh thệ rồi, ngày sau tùy theo âm chất mỗi đứa mà thăng hay là tội lỗi mà giáng. Song buộc mỗi đứa phải độ cho đặng ít nữa là mười hai người.” (27.8.1926)

▪ “Công quả tuy nhọc nhằn... có vì chúng sanh mà khổ tâm hành đạo, có khó nhọc, dãi dầu sương mơi nắng xế... mới có ngày vui vẻ bất tận, mới có buổi an hưởng địa vị Thiêng Liêng.” (14.12.1926)

▪ “Trong các con có nhiều đứa lầm tưởng hễ vào Đạo thì phải phế hết nhơn sự, nên chúng nó ngày đêm mơ tưởng có một điều thấp thỏi là vào một chỗ u nhàn mà ẩn thân luyện Đạo. Thầy nói cho các con biết nếu công quả chưa xong thì không thể nào các con luyện thành đạo đâu mà mong. Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi.” (5 Mars 1927)
 
Sửa lần cuối:

dong tam

New member
3. Qua các nguồn Kinh sách Thánh giáo khác:

- Tiền Khai Đại Đạo Đoàn Văn Bản dạy:

"Chữ quả công phải nhớ nằm lòng,
Đường phổ độ gia công mà tiến tới
. "

- Thầy dạy:

Các con rất diễm phúc mà được gặp đích thân Thầy đến mở Đạo tại góc đất Việt Nam nầy, đem chánh pháp phổ truyền, đem lòng từ bi ân xá, độ các con nào sớm giác ngộ cùng giác tha những kẻ còn đứng ngoài vòng Đạo Giáo trở về mái nhà lương thiện cùng nhau hấp thụ điển lành cùng Đạo Lý để làm động lực thúc đẩy bản thân thi hành công đức phổ độ chúng sanh được thuần lương thiện mỹ hầu tái lập đời Thượng Nguơn Thánh Đức.”

Hay “Thầy đến xứ Việt Nam nầy để Khai Đạo, kêu gọi các bực nguyên nhân hãy sớm lập công bồi đức, hướng dẫn toàn thể sanh linh sớm tỉnh tu để về cõi trường tồn chánh giác, hoặc hưởng đời Thượng nguơn Thánh đức.”

Như thế, qua một số trích dẫn từ Thánh Ngôn thuở Khai Đạo cho đến Thánh giáo sau này đã cho chúng ta thấy rõ danh từ “Công Quả” thường đi liền với cụm từ “phổ độ”. Và những ai dự “trường thi công quả” này đều phải trải qua hai môn thực hành với đối tượng chúng sanh để tiến đến mục đích của Cao Đài giáo là Thế Đạo Đại Đồng và Thiên Đạo giải thoát.
 
Sửa lần cuối:

dong tam

New member
II. CÂU CHUYỆN DẪN CHỨNG

1. Có 2 vị liễu đạo với khoản thời gian gần nhau, đó là Ngài Giáo Sư Thượng Còn Thanh (thuộc Ban Chỉnh, Đầu Họ Thánh thất Bình Hòa – Bình Thạnh - Gia Định) cha đạo trưởng Chí Tín và Ngài Hoàng Ngọc Tạo - Minh Tra đầu tiên của Cơ Quan PTGL.

Câu chuyện về những lời tâm sự của chư vị liên quan đến việc hành đạo công quả và công phu cho chúng ta thêm một kinh nghiệm trên đường lập công bồi đức:

Chơn linh Giáo Sư Còn nói:

Khi hồn lìa khỏi xác mới biết được những gì hữu ích thiết yếu và những phương tiện nào giúp đỡ cho linh hồn nhiều nhứt. Nhưng khi biết được thì sự đã muộn rồi. Tuy vậy Tệ Huynh cũng thấy cần thuật lại nơi đây để chư hiền đệ hiền muội sau nầy khỏi hối tiếc như Tệ Huynh trên bước đường tu thân hành đạo.

Kể từ ngày thoát xác đến nay, phải còn cần mấy tháng nữa nơi hồng trần, Tệ Huynh mới được ban phong vào hàng Thánh vị. Ước gì trước kia Tệ Huynh được điểm đạo sớm thì hôm nay không còn phải lo tu luyện thêm nữa.

Mặc dầu Hoàng Ngọc Lão Hữu tuy phẩm vị thấp hơn Tệ Huynh, nhưng đã được ban phong thiệt thọ rồi, là nhờ may mắn được điểm đạo khi còn sanh tiền.


▪ Còn Đức Đô Thống Quản Địa Thần nói:

Mặc dầu khi buổi xuân thời chưa có công quả đạo đức là bao, nhờ lòng chánh trực ngay thẳng với thời gian ngắn sau cùng được giác ngộ vào Cơ Quan hành đạo cùng với tâm nguyện cũng như lòng phát nguyện của hiền nương và các con. Hơn nữa, gặp Tam Kỳ đại xá mà Bổn Thần được chứng vị, chưa phải vội đầu thai trong thời kỳ nầy, để có cơ hội lập thêm công, bồi thêm đức trong buổi Hạ Nguơn cuối cùng nầy.”

Qua đây chúng ta thấy Giáo Sư Còn nhờ công quả hành đạo sâu dày với vai trò chức sắc ở địa phương độ dẫn nhơn sanh nên kết quả được chấm vào phẩm vị Đại Thánh nhưng thời điểm được sắc phong thiệt thọ vẫn phải chậm hơn Ngài Minh Tra Hồng Phước vì Giáo Sư Còn lúc ở thế gian chưa học và hành pháp Đại Thừa nên còn phải tu luyện ở cõi trên cho đến khi phục hoàn chơn dương mới đắc vị.
 

dong tam

New member
2. Bác sỉ Trần Văn Quốc với giác ngộ cuối đời với tâm nguyện góp phần phổ thông giáo lý tuy thời gian rất ngắn, chỉ có vài tháng, nhưng cũng kịp được hưởng đại ân xá.

Tuy chỉ là Chơn Thường Đạo Sĩ phải tiếp tục tu học và lập công ở cõi vô vi nhưng không phải chịu cảnh tiếp tục đầu thai trở lại thế gian này sau 1800 năm nhận sứ mạng xuống thế nhưng thực hiện chưa tròn lời nguyện ước.

3. Như vậy, ngôi vị thiêng liêng tùy thuộc vào số lượng và chất lượng Công Quả. Đức Lý Giáo Tông cũng dạy như thế:

Từ xưa đến nay chưa có phẩm vị thiêng liêng nào dành cho người thiếu Công Quả chỉ lo công phu, công trình bao giờ.
Công Quả là nền tảng của Công Phu.
Công Quả và đức hạnh quyết định ngôi vị Thiêng Liêng trước Đức Chí Tôn và nhơn sanh
 

dong tam

New member
ĐĐTKPĐ có bảng đối phẩm thiêng liêng gọi là Tam Thừa Cửu Phẩm. Ở vị trí tín đồ, tuy chỉ ăn chay 10 ngày một tháng nhưng nếu làm tốt vai trò vị trí của mình cũng có thể đắc vị Địa Thần. Vậy làm Công Quả gì mà người tín đồ có thể đạt kết quả cao trọng như thế?

Ngoài 2 kỳ sóc vọng hàng tháng phải đến Thánh sở theo luật định, mỗi tín hữu CD còn được khuyến khích tham gia các đạo sự “quan hôn tang tế”, v.v... Thí dụ: Trong tháng 7 mùa Cầu siêu hàng năm, nhiều Thánh sở tổ chức cầu nguyện hàng đêm trong nửa tháng. Có nơi có tổ chức thêm việc “dộng chuông U Minh” rồi “thuyết minh giáo lý” trong một số buổi và “tịnh hồi hướng” cho bá tánh chúng sanh, v.v... Nếu người tín hữu nào tham dự được khoảng từ 1/2 đến 2/3 các đạo sự này thì số lượng công quả cũng khá nhiều. Tất nhiên, phải làm công quả với tâm thương yêu hướng về chúng sanh thì mới hiệu quả chứ không có ý riêng để cầu lợi cho cá nhân, gia đình hay lấy những việc tham gia đó để xin cầu thăng chức phẩm thì sẽ không có công đức tích lủy để dành cho việc trở lại quê xưa.

Một thí dụ về giá trị phổ độ qua các hình thức cầu siêu trong Tam Kỳ Phổ Độ:

GIÀ LAM ĐỊA THẦN CHÁNH Ý TRẦN HỮU THINH, Tệ Đệ chào chư Thiên sắc, chào mừng chư sư, đạo huynh đạo tỷ và sau cùng tôi mừng nhị hiền nương cùng các nhục tử. Xin mời quý liệt vị đồng an tọa để khỏi tổn đức cho Tệ Đệ.

Thật là một cơn ác mộng đã trôi qua, nhưng lòng nhân thế cùng quý bạn hiền đã còn ghi lại nỗi niềm thương tiếc.

Muôn việc ở đời không chi là ngẫu nhiên. "Nhứt ẩm nhứt trác giai do tiền định". Một sự dứt bỏ ra đi một cách vội vàng khó tránh khỏi gây sự hoang mang cùng phân vân cho người dương thế, nhưng khi hiểu được lẽ vô thường, âu không chi lạ. Là vì nơi vùng này là vùng còn đầy dẫy ác khí, nên chi, mặc dầu bao nhiêu điển lành cùng tâm đạo đem ký nhà tịnh nơi này, cũng khó nỗi đàn áp được luồng hắc khí xung thiên từ những oan hồn uổng tử, đã gây ra bao nhiêu sự rủi ro trong khi xây cất.

Lúc bấy giờ, Tệ Đệ xét thấy đời đạo đức của mình còn quá muộn màng trễ nãi hơn các hàng huynh tỷ đệ muội, rất đỗi so sánh với hàng thê nhi mà Tệ Đệ vẫn còn thua kém. Nỗi lòng băn khoăn vì công quả không biết làm sao? Một giấc chiêm bao một đêm nào cũng nơi này, vừa mơ màng nửa say nửa tỉnh, Tệ Đệ chợt thấy vô số oan hồn đang tranh đua ngăn cản những việc làm từ thiện cùng hoằng dương đạo pháp nơi vùng này. Tệ Đệ bèn vội vàng quì xin thọ khổ phần nhục thể hình hài để làm lắng dịu bao nỗi oan hồn và cũng để thay mạng sống cho những người quả công vì đại cuộc. Và Tệ Đệ có hứa sẽ nhân một dịp nào, đề nghị cùng Hội Thánh có nhiều buổi lễ cầu siêu bạt độ âm hồn trở lại đường chân thiện mỹ. Do đó, mọi việc sắp xếp đã qua, rồi ... sáng lại, chư huynh tỷ đệ muội vừa phát giác một việc đã rồi
.”
[Bát Nhã Thiền Đường - Long Hải, mùng 10 rạng 11 tháng 8 Đinh Mùi (13.09.1967)]
 

dong tam

New member
- Đức Vạn Hạnh Thiền Sư có dạy:

Người cầm đuốc dẫn đường luôn luôn phải là người thông hiểu rõ đường nào phải đi, đường nào phải tránh. Không được lẫn lộn với nhau. Cùng lúc phải giữ gìn ngọn đuốc cho sáng tỏ mãi mãi để mình và mọi kẻ đi mút được khoảng đường. Sự vinh quang thành công theo lý tưởng là ở đó.” [Minh Lý Thánh Hội 30.8 Tân Hợi (18.10.1971)]

Đức Gia Tô Giáo Chủ có nói với ý: “Người tín hữu Cao Đài hay dân tộc này tâm thức thì sáng nhưng ý thức còn u tối ! ” trên đường góp phần thực hiện sứ mạng của Đại Đạo trong Tam Kỳ Phổ Độ này.

Thực trạng này có phần trách nhiệm của các nhân viên Cơ Quan Phổ tế trong các Hội Thánh Cao Đài của chúng ta hay không?

Qua những nội dung trình bày về phương tu của Tân Pháp Cao Đài nói chung và Công Quả nói riêng như bấy lâu nay mà nhiều giảng viên và thuyết trình viên đã giới thiệu có thật sự đã làm nổi bậc được Thánh Ý của Thầy hay chưa? Nếu rồi thì tại sao sau gần 90 năm Cao Đài giáo hiện diện mà vẫn tồn tại yếu kém này, còn nếu chưa thì sự điều chỉnh lại cho sát với Thánh Ngôn của Đức Chí Tôn trong các giáo trình giảng dạy ở các cấp lớp có thật sự cần thiết hay không?

Chúng ta có những suy tư gì về thực trạng này từ định hướng cho đến phương cách giáo dục để giúp cho tâm hồn mỗi tín hữu Đại Đạo luôn ý thức đến nghĩa vụ “phổ độ chúng sanh” mỗi khi thực hành bái lạy trong tứ thời hàng ngày nơi tư gia hay ít nữa là 2 kỳ sóc vọng hàng tháng nơi Thánh sở?

với các em đồng nhi – lễ sĩ, việc gieo vào đầu óc các em ý thức “phổ độ chúng sanh” càng sớm chừng nào thời càng có lợi chừng ấy cho việc thực hành sứ mạng Đại Đạo. Đức Lý Giáo Tông đã từng than:

Đó là chưa nói đến đa số lớp trẻ đi chùa thất tụng kinh làm đám nhưng có ai hỏi tại sao vào đạo thì chúng trả lời mỗi đứa khác nhau.

Đứa thì vào đạo vì thấy trang lứa muốn vào cho vui, đứa thì tại cha mẹ bảo không dám cãi, đứa thì thấy cha mẹ làm thì bắt chước nhưng không biết để làm chi, đứa thì vì sợ quỷ ma dẫn hồn xuống địa ngục nếu không cầu cạnh với thiêng liêng, đứa thì sợ tai bai họa gởi, đứa muốn được may mắn mọi sự trên đường đời nhờ có công đi chùa thất.
Không nghe đứa nào nói đến nhiệm vụ giáo dân vi thiện hay hoàn thiện hóa bản thân, hay nhờ đạo đức hóa mọi nếp sinh hoạt xã hội quốc gia để an bình thạnh trị cho non sông tổ quốc.

Đừng ai qui lỗi hoặc trách cứ tại sao chúng nghĩ vầy mà không nghĩ vậy, vì tổ chức từ cấp lãnh đạo tinh thần thiếu sót khiến cha mẹ chúng chẳng có đường lối hoài bão hướng thượng rồi bảo sao chúng lại có được tinh thần ấy
.” [ Thánh Giáo Sưu Tập 1968-1969 trang 114-115]
 

dong tam

New member
IV. TẠM KẾT:

Song hành pháp môn Tam Công, tùy theo căn trí và thâm niên tu học hành đạo, người tín hữu Cao Đài được Ơn Trên hướng dẫn từng bước:

1. Bước thứ nhứt:

Điều căn bản của Sứ Mạng Kỳ Ba là thực hiện “phổ hóa tận độ kỳ ba.” nghĩa là mỗi tín hữu Cao Đài đều phải cố gắng tu học để tiến tới đạt được ý thức:

- góp phần thực thi Sứ mạng Kỳ ba, đó là dự vào trường thi Công Quả.

- và việc thi công thi đức thi tài đó cần nhắm vào việc “phổ độ chúng sanh” là chánh yếu để thực hành sứ mạng dẫn dắt nhân sanh đạt kết quả “hưởng đời Thượng Nguơn Thánh đức” hay được “về cõi trường tồn chánh giác” vì “Công Quả là đường đến Ngọc Kinh”.

Và “Vậy muốn đắc quả thì chỉ có một điều phổ độ chúng sanh mà thôi”, phổ độ trên cả 2 phương diện nhân sinh và tâm linh.

Hay nói cách khác, khi làm công quả với tâm phổ độ, hệ số sẽ tăng lên gấp nhiều lần.

2. Bước thứ hai:

Cao Đài là Đại Đạo hay Đạo. Đạo bao gồm âm dương. Tân Pháp Cao Đài không ngoài 2 lẽ âm dương bình hành.
Vì thế phương tu hành của Cao Đài Giáo luôn được dạy phải song hành 2 mặt phổ độ và tịnh luyện.

Chúng ta chi nhớ lời Đức Đông Phương Chưởng Quản dạy:

Trong Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn khai Đạo với hai môn tu căn bản đó (phổ độ và tu tánh luyện mạng) nhưng thiết yếu hơn là hai đường hướng này đi song song với nhau.”

Song hành cả hai việc độ sanh và độ tử. “Độ sanh độ tử cầm cân song bằng” là 2 đối tượng trên đường phổ độ chúng sanh mà việc cầu siêu độ tử là một việc hệ trọng. Việc tham gia công quả cầu siêu nói chung, đặc biệt vào dịp tháng bảy Trung Ngươn xá tội nói riêng là cơ hội để các tín hữu bồi công lập đức.

Thầy đến trần gian dạy các con,
Trung Ngươn xá tội trẻ lo tròn
;

Hay “Tu là cứu Cửu Huyền Thất Tổ,
Tu là cần phổ độ chúng sanh.”

3. Ở góc độ giáo dục.

Khi chúng ta liên tục gieo ý thức sứ mạng “phổ độ chúng sanh” cho đạo hữu nhứt là cho các em đồng nhi lễ sĩ thanh thiếu niên qua việc thường xuyên hướng dẫn nhắc nhở ý nghĩa của hành động bắt Ấn Tý bái lạy sẽ là phương cách hữu hiệu thúc đẩy sự hình thành và tăng trưởng bền vững về tâm đức của toàn Đạo trên đường sứ mạng tận độ quần sanh hầu góp phần “hoằng khai Đại Đạo”.

Hình tượng bung xòe các ngón của 2 bàn tay nhắc đến ý nghĩa hãy chia sẻ kết quả thu được trên đường tu học học hành đạo đến với tha nhân và hình tượng thâu hồi các ngón tay ôm tròn kiết quả nói lên ý nghĩa tu luyện để có thể quy nguyên trở về Thái Cực. Đây chính là Nhân Sinh Quan và Vũ Trụ Quan Cao Đài.
 

dong tam

New member
Chúng ta trở lại với chủ đề chính.

Như đã trình bày ở trên, "phổ độ chúng sanh" là việc căn bản chánh yếu của "công quả"

Câu hỏi nêu ra nơi đây là: các tôn giáo khác trong nhị kỳ có đề cập đến vấn đề "phổ độ chúng sanh" hay không ? (Chỉ nói Nhị Kỳ vì các tôn giáo ở Nhứt kỳ xưa quá, e rằng khó có tài liệu để tham khảo)

Mời các bạn tham gia ý kiến.
 

dong tam

New member
Giáo lý Cao Đài rất nhấn mạnh đến cụm từ "phổ độ chúng sanh"

Còn các cựu giáo có hay không ?
 

QUANG

New member
Nhất kỳ cũng là Thầy, nhị kỳ cũng là Thầy, tam kỳ cũng là Thầy. Đến đây các bạn đã có câu trả lời rồi phải không ?
 

dong tam

New member
Nhất kỳ cũng là Thầy, nhị kỳ cũng là Thầy, tam kỳ cũng là Thầy. Đến đây các bạn đã có câu trả lời rồi phải không ?
<br /> <br />

Nếu nói như thế là chưa nắm được "yếu chỉ pháp môn Cao Đài". Nói theo ngôn ngữ đời là đã "đánh đồng cá mè một lứa" rồi.

Nếu nói như thế thì Thầy đâu cần phài lìa Bạch Ngọc kinh để đến địa cầu 68 này làm gì. Và cũng nếu như thế thì chánh pháp Cao Đài làm sao sẽ lưu truyền đến "thất ức niên"!

Việc học hỏi giáo lý cho có căn bản thật là cần thiết biết bao cho mỗi tín hữu Cao Đài!
 
Đạo Tiên có cụm từ Bác Tế Tiên Phương , Đạo Phật có từ Phổ Tế , Bác Tế ,Phổ Tế và Phổ Độ có cùng ý nghĩa không quý Huynh Tỷ ?
 

dong tam

New member
Thiên Chúa giáo trước Công Đồng Vatican 2 (thập niên 60 của thế kỷ 20) luôn xem các tôn giáo khác là "dị giáo" hay "tà giáo"! Vậy Ky Tô giáo có tính phổ độ hay không ? hay có nhưng chỉ trong chừng mức nào đó mà thôi.

Các tôn giáo khác trong Nhứt và Nhị kỳ cũng tương tợ

Phật giáo tuy có dùng từ "phổ độ chúng sinh" nhưng mức độ "phổ" cũng còn hạn chế. Chính đức Thích Ca cũng công nhận điều này.

Ý của tôi là thế, còn các bạn có quan điểm về việc nào thế nào? Đồng ý hay không đồng ý

xin mời
 

QUANG

New member
Vậy hiểu là tất cả các tôn giáo trên thế giới đều phổ độ. Cái khác chính là đối tượng và cách thức phổ độ.
Nếu như nhận định trên là chính xác, vậy đối tượng và cách thức phổ độ của đạo Cao Đài là gi ?
 

dong tam

New member
Quan hệ nhứt là một đặc ân: nhơn loại trong buổi Tam Kỳ được đại xá và tận độ không bỏ sót một ai.” [Đạo Học Chỉ Nam – Minh Lý Đạo, Đức Vạn Hạnh Thiền Sư]

Trong các tôn giáo đã hiện diện trong tiến trình tiến hóa văn minh nhân loại, cho đến hôm nay duy nhứt Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nêu lên một lý luận căn bản, hoàn toàn mới so với các cựu giáo, đó là luận điểm về Ngũ Chi Đại Đạo. Đây chính là một khía cạnh thể hiện tư tưởng phổ độ của Cao Đài giáo, không phân biệt trình độ căn trí cùng ý hướng sở thích của mỗi cá thể.

Một thí dụ cụ thể: không dễ gì có một tín đồ của tôn giáo A khi đến thăm viếng đền thờ của một tôn giáo khác sẳn sàng bái lạy. Như thế trong tư tưởng của người tín hữu A đó đã có sự phân cách sâu sắc giữa tôn giáo bạn với tôn giáo của mình đang mang! Một khi đã như thế thì làm sao có thể thực hiện được chữ Hòa để hầu độ người. Trong khi đó người tín đồ Cao Đài được dạy “phải luôn tôn trọng mọi xu hướng tín ngưởng”, khi đến bất cứ nơi thờ tự chánh đạo nào cũng đều phải kính cẩn lễ bái. Để thực hiện được điều này, tư tưởng triết Cao Đài về mặt Thế Đạo truyền bá chủ thuyết Đại Đồng nhân loại và Đại Đồng tôn giáo.

Trên đây là một phần của đối tượng Nhân sanh trong tầm nhắm "phổ độ" của tín hữu Cao Đài.

Nhưng "chúng sinh" không chỉ riêng là nhân loại mà là toàn thể sinh vật trong "bát hồn vận chuyển"

Có tôn giáo nào trước đó đã đề cập tới quan điểm này chưa? hay, lại thêm lần nữa đây là tư tưởng triết Cao Đài!
 

Trung ngôn

Active member
QUANG nói:
Vậy hiểu là tất cả các tôn giáo trên thế giới đều phổ độ. Cái khác chính là đối tượng và cách thức phổ độ.
Nếu như nhận định trên là chính xác, vậy đối tượng và cách thức phổ độ của đạo Cao Đài là gi ?
Kính Huynh Quang,
Theo lời của Thầy đã nói (TNHT, Bài 8, Q.1, Bản in của TTTN) có ghi:
- Đối tượng phổ độ của Tam Kỳ Phổ Độ là tất cả chúng sanh trong bát hồn (kinh nhà Phật nói rõ, kinh sách Cao Đài sau đó nói lại cho tất cả chúng sanh hiểu rõ hơn).
- Cách thức phổ độ của Cao Đài giáo là sử dụng Bửu pháp đã được ban cho trong giai đoạn này, tức thời Tam Kỳ Phổ Độ.
Đọc kỹ bài thánh ngôn đã dẫn thì chúng ta sẽ thấy.
Trung Ngôn hiểu như vầy.
(nguồn: http://www.caodaism.org/2001/tnht-biafoot2.htm)
Kính.
 

QUANG

New member
Kính huynh Trung ngôn và các huynh đang quan tâm đến đề tài này.

Như huynh đã nói ở trên, sử dụng Bửu pháp đã được ban để phổ độ bát hồn.
Vậy, Bửu pháp đó có phải là Tinh, Khí, Thần !?
 

dong tam

New member
1. Tinh Khí Thần, bất cứ ai cũng đều có nhưng tất nhiên ở những cấp độ khác nhau nơi mỗi người. Như vậy TKT không là bửu pháp mà là "Tam bửu".

Thánh Ngôn Hiệp tuyển có ghi lời dạy của Thầy: “Kẻ nào trai giới đặng 10 ngày đổ lên, thọ bửu pháp đặng.” [Đức Chí Tôn, Thánh Ngôn Hiệp Tuyển 1, Ngọc Đàn Cần Giuộc (17.7.1926)]

Đây cũng là 1 khía cạnh thể hiện yếu tố "phổ độ" của Tam Kỳ Phổ độ mà khi xưa nơi các tôn giáo khác không có! Tại sao thế, xin tự tìm câu giải đáp (cũng dễ tìm thấy thôi)

Như vậy bửu pháp là cái pháp quý, người hữu duyên và xứng đáng mới được "thọ nhận"

2. Trung Ngôn viết: [Đối tượng phổ độ của Tam Kỳ Phổ Độ là tất cả chúng sanh trong bát hồn (kinh nhà Phật nói rõ, kinh sách Cao Đài sau đó nói lại cho tất cả chúng sanh hiểu rõ hơn).]

Xin được diễn giải cho rõ thêm ý này?
 

Facebook Comment

Top