Đạo luật Mậu Dần - 4 CQ Hành chánh đạo

Trung ngôn

Active member
Kính HTDM,
xin được tiếp tục học hỏi về các thành phần giáo phẩm của Thượng Hội.
Liên quan đến phẩm Chưởng pháp khi tham gia hội này.
Theo quy định tại PCT thì Giáo phẩm này được quyền xét nét luật khi Giáo tông đưa xuống hay đầu sư đưa lên, chỉ cần một vị không đóng dấu trên bất kỳ văn bản nào thì văn bản đó cũng không được Đầu sư công bố - Pháp chánh truyền (*).
Câu hỏi thứ 7: Phẩm Chưởng pháp tham gia tại Thượng hội, vậy quyền của Quý Ngài có bị hạn chế chỉ còn 1/11 trên tổng số phiếu khi "xét nét" để bác luật không ??
Câu hỏi phụ: Giáo phẩm được đặc cách bảo tồn pháp luật tại Cửu trùng đài cùng tham gia hành chánh đạo với các chức sắc Hiệp thiên đài có được xem ảnh hưởng đến Pháp chánh truyền hay không ??
Kính lời học hỏi.
 
Sửa lần cuối:

Trung ngôn

Active member
Thưa HTDM,
Xin được tiếp tục với giáo phẩm của Nội luật phần Thượng hội.
Thượng hội được lập ra với chức năng và nhiệm vụ được quy định riêng cho Hội này.
Giáo phẩm Giáo tông và Hộ pháp đã được Pháp chánh truyền quy định quyền hạn của Quý Ngài từ ngày 16/10/Bính Dần - 1926; bản văn này do chính Thượng Đế lập. Hiệp thiên đài và Cửu trùng đài cũng đã được minh định khá rõ ràng; Hiệp thiên đài có bán hữu hình - một nữa là vô hình, một nữa là hữu hình; Cửu trùng đài thì là hữu hình.
Pháp chánh truyền được Tân Luật một lần nữa cụ thể hóa cho phù hợp với thế "Thiên Nhân hiệp nhất", một bộ luật có một không hai qua các thời kỳ phổ độ của Thượng Đế.
Theo tổ chức nhân sự được điều thứ nhất ghi nhận gồm có Giáo tông và Hộ pháp cùng trong một hội. Cũng theo đàn cơ tại Tây Ninh (Thảo Xá Hiền Cung), ngày 23 Décembre 1931 (Huynh hienhuu dẫn tại đây http://caodaivn.com/forum/showthread.php?t=2974&page=4) thì khi hai Ngài Giáo Tông và Hộ Pháp "hiệp một" (cần xem kỹ nội dung Thầy cho "hiệp một" khi nào và vào việc gì sau) đã là Quyền Chí tôn.
Trong khi đó PCT có nói: Nay Thầy đến chẳng phải lấy nó lại, mà Thầy chỉ đến làm cho tiêu diệt cái hại của nó; nếu muốn trừ cái hại ấy thì chẳng chi hay hơn là chia đôi nó ra, không cho một người nhứt thống.
Ở đây "chia đôi' có nghĩa là tách "phần xác" rời khỏi "phần hồn" hay chia quyền cho riêng Hiệp thiên đài (phần hồn) và Cửu trùng đài (phần xác) nắm giữa riêng biệt; mà quyền hành giao hết vào tay hai vị Giáo tông và Hộ pháp.
Câu hỏi thứ 8: Khi hội này (Thượng hội) nhóm họp thì có phải Quyền Chí tôn đã xác lập do có 2 phẩm Giáo tông và Hộ pháp biểu quyết cùng tán thành hay cùng không tán thành một việc liên quan đến giáo hội, bất chấp quyền biểu quyết của các thành viên còn lại trong Thượng hội là 9/11 phiếu ???
Câu hỏi phụ (vẫn như cũ): Ai sẽ tham gia "bảo tồn pháp luật" khi Hội Thượng hội nhóm họp mà lúc đó có 3 phẩm bảo vệ pháp luật của Cửu trùng đài (3 vị Chưởng pháp) lẫn 3 phẩm bảo vệ pháp luật của Hiệp thiên đài (vị Hộ pháp, vị Thượng sanh và vị Thượng phẩm) cùng tham gia hành chánh đạo với Quyền Chí tôn tại thế (Phẩm Giáo tông + Phẩm Hộ pháp). Thêm vào đó cùng Phẩm Đầu sư Nữ phái mà Pháp chánh truyền không cho phép "xen lộn" cùng Nam phái.
Kính lời học hỏi cùng Chư huynh tỷ.
 

Trung ngôn

Active member

Thưa Quý HTDM,
8 câu hỏi ở trên được đặt ra trên cơ sở Pháp chánh truyền và các giáo phẩm ở vị trí độc lập. Nay các giáo phẩm được đặt chung trong một cơ cấu tổ chức là Thượng hội. Mới đọc qua, xem xét không kỹ thì sẽ thấy ngay là mâu thuẩn Pháp chánh truyền.
Song, có lối ra nào cho cơ cấu tổ chức Hội này không phạm Pháp chánh truyền khi hội và họp?
Đây là câu hỏi thứ 9.
Câu trả lời sẽ được đưa ra sau 1 năm nữa và dĩ nhiên là chỉ ở góc độ cá nhân mà thôi.
Một số Hội thánh chuẩn bị công tác tu chỉnh Hiến chương, Đạo quy, … một khi không cân nhắc kỹ lưỡng các chức năng và nhiệm vụ lẫn cơ cấu nhân sự thì sẽ đưa Thượng Hội vào thế mâu thuẩn với Pháp chánh truyền. Nhất là các giáo phẩm Hiệp thiên đài cùng tham gia hành chánh cùng Cửu trùng đài; ở vị trí này thì thực sự là ai sẽ “bảo pháp” cho việc “vừa đá banh vừa thổi còi”.
Thực sự đây là điểm yếu chung khi mà các giáo phẩm hiện tại được phép “lập luật” đều ở tuổi “cổ lai hy” và thêm nữa là chưa ai “qua” khóa về logic học nên việc xây dựng các điều khoản đều nằm trong vòng lẩn quẩn dẫn đến mâu thuẩn nội tại lẫn mâu thuẩn với luật cơ bản là Pháp chánh truyền; hệ quả tất yếu là luật được lập ra "bỗng dưng" vô hiệu ngay sau khi ban hành, thấm chí là triệt tiêu không cho phép chỉnh sửa, tu chỉnh là khác (đã phân tích trong một Hiến chương tại diễn đàn này) và còn tệ hơn nữa là lập luật song mà “quên” hay công bố hay ban hành bằng một văn bản có hiệu lực nhưng lại buộc tất cả chức sắc lẫn nhân sanh phải tuân hành.
Hơn nữa, lớp hậu sinh không lớn kịp để có thể giúp đỡ, tư vấn Quý vị đó trong qua trình lập luật.
Các vấn đề được TN đưa ra để cùng tham khảo và học hỏi, ngoài ra không có ý gì khác.
Kính lời học hỏi. Sẽ tiếp tục quay lại chủ đề nay khi có dịp.
 
Xin thành thật cảm ơn Ban Quản Trị trang web caodaivn.com đã tạo điều kiện cho Tôi được tham gia vào trang web.

Kính quí thành viên.

Kính hiền Trung Ngôn.

Tôi tên Trần Văn Chí mới tham gia trang web nên có chi sơ sót kính mong được thông cảm và thảo luận để cùng nhau tiến bộ.

Sau đay Tôi xin phép tham gia vào phần Thượng Hội trong diễn đàn nầy.

Nay kính.
 
TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI &
TRẢ LỜI CÂU HỎI.

Kính Ban Quản Trị trang web caodaivn.com.
Kính hiền Trung Ngôn.
Trên trang web caodaivn.com diễn đàn: TÌM HIỂU ĐẠO CAO ĐÀI. Vấn đáp học đạo Đề tài: Đạo Luật Mậu Dần – 4 CQ Hành Chánh đạo, đề tài mở ngày 05-8-2009.
Hơn một năm sau (15-9-2010) thành viên Trung Ngôn có đặt vấn đề về Thượng Hội của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Cho đến lần post sau cùng ngày 24-9-2010 Trung Ngôn đã nêu ra 09 câu hỏi và hẹn sẽ quay lại khi có dịp.
Đến nay gần hết năm 2012 (hơn 02 năm) mà vẫn chưa thấy Trung Ngôn hay thành viên nào quay lại để giải quyết các câu hỏi nầy.
Tôi là một phần tử trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ có tìm hiểu ít nhiều, trong tinh thần học hỏi chung kính mong BQT vui lòng cho phép Tôi được tham gia trình bày.
Mong rằng chúng ta cùng có thêm kiến thức khi trao đổi.
&&&

Lẽ ra thì trả lời từng câu hỏi của Trung Ngôn nhưng Tôi nghĩ sẽ hữu ích hơn nếu trình bày bằng một bài viết rồi sau đó sẽ trả lời các câu hỏi. Mong rằng bài nầy làm rõ được ít nhiều vấn đề nêu ra.

A- TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI.
I- Thời gian lập thành và thứ tự trong in ấn.
1- Thời gian lập thành.
- Thượng Hội Nội Luật.
Do Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt (x1) và Hộ Pháp Phạm Công Tắc cùng ký và ban hành ngày 22-01- Nhâm Thân. (1932).
- Luật lệ chung các Hội, Hội Nhơn Sanh Nội Luật, Hội Thánh Nội Luật.
Cả ba luật nầy do Phạm Hộ Pháp Chưởng Quản Nhị Hửu Hình Ðài Hiệp Thiên và Cửu Trùng, ký và ban hành ngày 16- 11- Giáp Tuất. (1934).
[Theo diễn văn ngày 08-4-Giáp Tuất “1934” của Đức Quyền Giáo Tông thì ngoài nội luật Thượng Hội ra còn có Nội Luật Hội Nhơn Sanh và Hội Thánh của các vị Chánh Phối Sư lập ra.
Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt đăng tiên ngày 13-10- Giáp Tuất (19- 11-1934). Ngày 06-11- Giáp Tuất Đức Hộ Pháp được công cử cầm luôn quyền Giáo Tông của Cửu Trùng Đài. Ngày 16-11- Giáp Tuất (22-12- 1934) Đức Hộ Pháp đã ký ban hành 03 luật kể trên.].

2- Thứ tự trong in ấn:
Luật lệ chung các Hội.
Hội Nhơn Sanh Nội Luật.
Hội Thánh Nội Luật.
Thượng Hội Nội Luật.

II- Vài điều cần lưu ý.
1- Về danh xưng Nghị Trưởng và Hội Trưởng.
Trung Ngôn post:
Điều thứ nhất: Thượng Hội thì có:
1. Giáo tông: Hội trưởng.
2. Hộ pháp: Phó hội trưởng.
Là chính xác.
Vì có một số nơi ghi là Nghị Trưởng và Phó Nghị Trưởng.
Điều nầy can hệ như thế nào?
Theo điều 10 trong luật lệ chung các Hội:
….Như Nghị trưởng định nhóm giờ nào khi quá giờ ấy 15 phút đồng hồ phải mở Hội không kể số Nghị viên nhiều ít.
Thoảng như Nghị trưởng vắng mặt hoặc đến trể thì Phó Nghị trưởng thay thế, một Nghị viên chức lớn hoặc lâu củ hơn hết hoặc tuổi tác lớn hơn hết ngồi ghế Phó Nghị trưởng.
Chừng Nghị trưởng đến thì ngồi chỗ Nghị viên.
Còn như Nghị trưởng và Phó Nghị trưởng vắng mặt hoặc đến trể thì hai Nghị viên chức lớn, hoặc lâu củ hơn hết ngồi Nghị trưởng và Phó Nghị trưởng.
Chừng Nghị trưởng và Phó Nghị trưởng đến thì ngồi chổ Nghị viên...
&&&

Nghị trưởng và Phó Nghị trưởng đi trể (15 phút sau giờ ấn định) hay vắng mặt trong buổi hội nhóm thì luật có qui định Nghị viên thay thế ngay trong buổi hội ấy.

Nhưng Luật không có cho phép Nghị viên nào được quyền thay thế Hội Trưởng và Phó Hội Trưởng trong thượng hội. (Vì quyền Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp lại là quyền Chí Tôn tại thế).

II- Quyền Vạn Linh là gì?
Theo cơ cấu Ba Hội thì từ quyền của Chưởng Pháp trong Thượng Hội trở xuống Hội Nhơn Sanh là Quyền Vạn Linh. Lưu ý Giáo Tông và Hộ Pháp dự hội nhưng không là thành phần của 03 Hội Lập Quyền Vạn Linh.
Về nhân sự thì 02 vị (Giáo Tông và Hộ Pháp) ở trong Thượng Hội nhưng quyền hạn thì vượt lên trên Thượng Hội. Đây là điều rất hiếm có trong mọi tổ chức bởi vì: Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp lại là quyền Chí Tôn tại thế.

Chứng minh:

1: Diễn văn ngày 08-4-Giáp Tuất “1934” của Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt.
Đạo Sử Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu Q.2 Trang 293. Bản in Hoa Kỳ.
...Bởi vậy mới rồi đây, Tệ Huynh có đắc lịnh dạy bảo phải chỉ rõ phương diện chánh thể của Ðạo, xin giải:
Trước đây, Tệ Huynh có nói Thầy lập Ðạo kỳ nầy phù hạp với dân trí ngày nay đã tăng tiến khỏi Ngươn Tấn Hóa đến địa vị tối cao, cho nên chủ nghĩa Cựu Luật của các Tôn Giáo hiện thời không đủ sức kềm chế đức tin của toàn nhơn loại.

Theo chánh thể của ÐÐTKPÐ thì có ba Hội đã định quyền hành đặc biệt:

a). Thứ nhứt là Hội Nhơn Sanh:
Trong Hội Nhơn Sanh thì Chánh Phối Sư phái Thượng là Chủ Trưởng.
Hội Viên thì từ Lễ Sanh đổ xuống Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự và người Phái Viên thay mặt cho nhơn sanh.
Trong Nội Luật Hội Nhơn Sanh của ba Chánh Phối Sư lập ra có chỉ rõ luật lệ. Ấy vậy từ hàng Tín Ðồ cùng đồng nhi đều có người thay mặt đặng xem xét việc Ðạo rồi đệ lên Hội Thánh phán đoán.
Vạn vật cũng có ảnh hưởng trong Hội Nhơn Sanh vì người là Chúa của vạn vật. Xét kỹ thì Thầy công bình không xiết kể và lo việc hóa sanh không ngằn không tận.

b). Thứ nhì là Hội Thánh:
Trong Hội Thánh thì có Thái Chánh Phối Sư làm Chủ Trưởng. Hội Viên thì từ Giáo Hữu, Giáo Sư và Phối Sư thiệt thọ có trách nhậm hành chánh đặc biệt.
Trong Nội Luật Hội Thánh của ba Chánh Phối Sư lập ra có chỉ rõ thức lệ. Hội Thánh có quyền xem xét các việc của Hội Nhơn Sanh dâng lên và các việc hành chánh trong Ðạo, rồi đệ lên Thượng Hội.

c). Thứ ba là Thượng Hội:
Thượng Hội thì cũng có Nội Luật chỉ rõ thức lệ. Trong Thượng Hội thì Giáo Tông làm Chủ Trưởng, Hộ Pháp làm Phó Chủ Trưởng. Hội Viên thì có:
• Thượng Phẩm
• Thượng Sanh
• Ba vị Chưởng Pháp
• Ba vị Ðầu Sư
• Và Ðầu Sư Nữ Phái
Không cần nhắc thì chư Hiền Hữu Lưỡng Phái cũng hiểu rằng mấy Ðại Thiên Phong kể trên đây có hành chánh phận sự lớn lao của mình thì mới đặng vào Thượng Hội.
Thượng Hội để giúp Giáo Tông và Hộ Pháp điều đình cả nền Ðạo lớn lao của Thầy.
Thượng Hội có quyền xem xét các điều nghị luận của Hội Thánh và Hội Nhơn Sanh rồi hoặc đệ lên cho Giáo Tông và Hộ Pháp phê chuẩn hay là trả lại cho Hội Thánh định đoạt lại.

Ba Hội (Thượng Hội, Hội Thánh, và Hội Nhơn Sanh) toàn nhập lại theo thức lệ rành rẽ thì gọi là Quyền Vạn Linh, chớ không phải ai muốn lập Hội Vạn Linh, tổ chức gì theo ý riêng của mình rồi muốn đem ai lên làm Chủ Trưởng tổ chức gì cũng được.
Như vậy thì có Luật lệ gì đâu? Mà không Luật lệ thì là không phải Ðạo.

Trên ba Hội, thì có Giáo Tông và Hộ Pháp.

Giáo Tông làm chủ Cửu Trùng Ðài thì lo việc Chánh Trị của Ðạo, có Chưởng Pháp và Ðầu Sư ở trung gian giúp sức điều đình các Luật lệ truyền xuống cho ba Chánh Phối Sư nắm trọn quyền hành chánh. Giáo Tông có quyền định đoạt trong việc Chánh Trị của Ðạo.

Hộ Pháp thì lo giữ Luật lệ của Ðạo cho khỏi sái Thiên Ðiều vì Luật lệ của ÐÐTKPÐ ngày nay thì thế cho Thiên Ðiều.
Hộ Pháp có quyền đặc biệt về ân xá cũng như Giáo Tông có quyền Chánh trị vậy.
Hộ Pháp chưởng quản Hiệp Thiên Ðài, có Thượng Phẩm, Thượng Sanh và Thập Nhị Thời Quân giúp sức.

Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp một là Quyền Chí Tôn.

Tệ Huynh có thọ lịnh chỉ rõ phương diện Chánh thể của ÐÐTKPÐ của Thầy khai trong buổi Hạ Ngươn chuyển thế đây y trên đó. Xin chư Hiền Hữu Lưỡng Phái rán nhớ và lo phận sự, đừng sai luật Ðạo mà bị tội, và mình tuân trọn Luật Ðạo của Thầy thì là món binh khí diệt tà quyền giả mị đó.
Tệ Huynh xin nhắc lời tuyên ngôn của Ðại Từ Phụ hồi buổi ban sơ, Thầy có nói: "Thầy lập Ðại Ðạo Tam Kỳ nầy là lập một cái trường công quả, nếu các con đi ngoài trường công quả ấy thì không trông mong gì về cùng Thầy đặng".
Trường công quả của Thầy có đôi bên: Một bên vô hình là các Ðấng Thiêng Liêng (Phật, Tiên, Thánh, Thần) cũng lập công quả trong buổi chuyển thế nầy. Các Ðấng Thiêng Liêng thường theo một bên chúng ta đặng ám trợ chúng ta về phần vô vi.
Còn các việc hữu hình tại thế là các việc phải có thi hành như chúng ta bây giờ đây mới làm đặng thì về phần chúng ta phải lo làm rồi có các Ðấng Thiêng Liêng ám trợ.
Thí dụ như đi độ rỗi nhơn sanh phải nói Ðạo cho người nghe, như phải lập mấy cuộc để giúp thế đang nguy nan, như nhà trường dạy kẻ cô độc học, nhà thương, nhà dưỡng lão cùng các nghề nghiệp cho đạo hữu có phương làm ăn đặng cơm tẻ ngày hai, có áo quần che thân ấm cật.... thì chúng ta phải lo hết rồi các Ðấng Thiêng Liêng ám trợ cho thành tựu….
(CÒN TIẾP)
 
Sửa lần cuối:
TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI &
TRẢ LỜI CÂU HỎI.

(tiếp theo).

2: Diễn văn ngày 15-8- Quí Dậu -dl 4-10-1933 của Đức Hộ Pháp.
* Quyền Thượng Hội: là HTĐ thì Hộ Pháp. Thượng Phẩm, Thượng Sanh; Cửu Trùng Đài thì Giáo Tông, Chưởng Pháp và Đầu Sư, cầm luật pháp điều hòa đạo mạch. Thượng Hội không quyền sửa trị, duy thi hành luật lịnh Chí Tôn, kỳ dư khi nào Hội Thánh và Hội Nhơn Sanh phản khắc cùng nhau làm nền Đạo chinh nghiêng nguy hiểm thì Đầu Sư mới đặng thống quyền nắm Đạo pháp thi hành chánh trị. (Quyền Thống nhứt phải có đủ quyền Vạn linh và quyền Chí Tôn hiệp đồng ban cho mới đặng)….
Trừ hai vị Đại Thiên phong là Giáo Tông và Hộ Pháp đã thay quyền Chí Tôn tại thế ra, cả ba Hội công đồng mới có quyền Vạn linh đủ phép.

Ấy vậy, Đạo có Quyền Vạn linh chớ không có Hội Vạn linh.

3- Lời mở đầu.
Mở đầu Thượng Hội Nội Luật: Toàn Thế Giới Càn Khôn chính có 02 quyền. Trên thì là quyền hành CHÍ TÔN của ÐẤNG TẠO HOÁ. Dưới là quyền hành của VẠN LINH. Nghĩa là sanh chúng.
Quyền hành CHÍ TÔN trọn nơi thế nầy thì là tại quyền Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp một. Hai bên phản khắc nhau thì Chánh Trị Ðạo phải bị đổ.
Quyền hành VẠN LINH nghĩa là của sanh chúng đều có đủ trọn vẹn nơi THƯỢNG HỘI, HỘI THÁNH VÀ HỘI NHƠN SANH hiệp đồng. Nếu ba hội phản khắc nhau thì quyền hành ấy tiêu huỷ.

4- Nội Luật Thượng Hội.
[[[[[ Điều Thứ Mười:
Trong mổi việc chừng cả Hội viên tỏ hết ý kiến và bàn luận rồi thì Hộ Pháp và Giáo Tông có ý kiến chi thì mới bày tỏ ra sau rốt. Chừng rồi Hội trưởng định bỏ thăm, bên nào phần đông thì Thượng Hội tuân theo.
Điều Thứ Mười Một:
Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp một thì là quyền Chí Tôn nên không có bỏ thăm. Nếu cả ba hội phản khăc nhau thì quyền Chí Tôn nghĩa là của Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp một chủ định thể nào thì Chánh Trị của Đạo y theo thế ấy. Còn như quyền hành Giáo Tông và Hộ Pháp phản khắc nhau nửa thì cả thảy về chánh trị và chúng sanh đều bị huỷ bỏ.
Chừng ấy Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh, Thượng Hội phải nhóm lại mà định đoạt sửa cải lại nửa.
Nếu có việc chi trái Luật Đạo thì Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp cùng nhau đặng trọn quyền ban truyền xuống cho Đầu Sư định đoạt lại.

Điều Thứ Mười Bốn:
Sau khi hội Thượng Hội thì Giáo Tông và Hộ Pháp phải đình Hội lại 15 phút đồng hồ đặng hai người vào Đại Điện mật nghị rồi phải trở ra cho Thượng Hội hay những điều của hai đàng nhứt tâm quyết định.
Theo “điều 10”. Sau khi bàn luận xong rồi thì Giáo Tông cho bỏ thăm. Bên nào có số thăm nhiều thì thượng hội tuân theo.

“ Chỉ có các Nghị Viên Bỏ thăm còn Giáo Tông và Hộ Pháp thì không bỏ thăm”.

Theo điều 14 thì Kết quả cuối cùng của Thượng Hội không phụ thuộc vào biểu quyết của các Nghị Viên thượng hội mà tuỳ thuộc vào quyền Chí Tôn tại thế (sau khi hai vị vào đại điện mật nghị).
(Đây là điều rất đặc biệt so với Hội Nhơn Sanh và Hội Hội Thánh).

III- Căn cứ vào đâu mà có các văn bút trên và Nội Luật?
Theo chổ tìm hiểu của chúng tôi thì có 02 căn cứ.

1- Từ các Đạo Nghị Định và được dạy trực tiếp.
Các vị có trách nhiệm kết hợp Đạo Nghị Định với việc được dạy trực tiếp nên thực hiện mà không có văn bản lưu lại. Cũng như Đức Hộ Pháp được dạy trực tiếp về việc thành lập Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự và Thông Sự rồi đưa vào PCT nên không có thánh ngôn lưu lại như PCT Cửu Trùng Đài Nam, Nữ, Luật công cử hay PCT Hiệp Thiên Đài.
Theo chúng tôi tìm hiểu thì lần đầu tiên mở ba hội như sau:
- Hội Nhơn Sanh nhóm ngày 15-10- Tân Vì (24-11-1931).
- Hội Thánh nhóm ngày 16-18/ 11- Tân Vì (24- 26/ 12-1931).
- Thượng Hội nhóm ngày 27-28-29/ 11- Tân Vì (04-05-06/01-1932).
Ba Hội nầy nhóm giải quyết vấn đề gì?
Một trong những nội dung ba hội giải quyết là công nhận Nội Luật Toà Thánh. (Sau khi 03 Hội thông qua Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt và Đức Hộ Pháp ký ban hành Nội Luật Toà Thánh ngày 15-01- Nhâm Thân “20-01- 1932”).
“Lưu ý là có Hội nhưng chưa có Nội Luật cho các Hội”.
* Các Đạo Nghị Định ngày 03- 10- Canh Ngọ (22- 11- 1930) soi sáng.
+1: Đạo Nghị Định thứ nhì.
Điều thứ tư: Chánh Phối Sư đặng trọn quyền thông công cùng Chánh Phủ và Nhơn Sanh nhưng buộc phải có Hội Viên Nhơn Sanh và Hội Thánh chăm nom cơ hành động.
+2: Đạo Nghị Định thứ tư.
Điều thứ tư: Thượng Chánh Phối Sư đặng quyền thay mặt cho toàn đạo mà giao thông cùng Chánh Phủ và cả Tín Đồ quyền giáo dục nơi tay người nắm, làm chủ toạ Hội Nhơn Sanh.
Căn cứ vào nội dung trích dẫn ta nhận thấy đến thời điểm tháng 11-1930 cơ chế 03 HLQVL vẫn chưa hoàn chỉnh.
Sau đó Hội Thánh mới soạn thảo Nội Luật…. Và ban hành

2- Đàn cơ chỉ dẫn về Ba Hội Lập Quyền Vạn Linh do Đức Chí Tôn dạy vào ngày15-11- Tân Mùi (23-12- 1931) tại Thảo Xá Hiền Cung. “TNHT. Q.2 T. 83”.
Tây-Ninh (Thảo-xá Hiền-Cung), ngày 23 Décembre 1931
….. Các con phải nhớ rằng toàn Thế-giới Càn-khôn, chỉnh có hai quyền: trên là quyền-hành Chí-Tôn của Thầy, dưới là quyền-hành của sanh-chúng. Thầy đã lập hình-thể hữu-vi của Thầy, nghĩa là Hội-Thánh của Đại-Đạo ngày nay rồi thì Thầy cũng phải ban quyền-hành trọn-vẹn của Thầy cho hình-thể ấy, đặng đủ phương tận-độ chúng-sanh, còn các con cả thảy đều đứng vào hàng sanh-chúng, dưới quyền-hành chuyển thế của đời, nghĩa là toàn nhơn-loại đồng quyền cùng Thầy, mà tạo-hóa vạn-linh vốn là con-cái của Thầy, vậy thì vạn-linh cũng có thể đoạt-vị vào hàng Thần, Thánh, Tiên, Phật đặng.
Trong quyền-hành ấy có nhiều đẳng-cấp, nên khỏi phải chịu phẩm Người: ấy vậy Người là chủ-quyền của vạn-linh.

Thầy nói rõ: quyền Chí-Tôn là Thầy, quyền Vạn-linh là sanh-chúng, ngày nào quyền-lực Chí-Tôn đặng hiệp một cùng Vạn-linh thì Đạo mới ra thiệt-tướng.

Thầy đã ban quyền-hành Chí-Tôn của Thầy cho hai đứa làm đầu Hội-Thánh là Giáo-Tông cùng Hộ-Pháp. Vậy thì quyền-hành Chí-Tôn của Thầy đặng trọn-vẹn khi Giáo-Tông cùng Hộ-Pháp hiệp một.

Còn cả nhơn-loại thì là quyền lực Vạn-linh. Quyền-hành Chí-Tôn của Thầy, duy có quyền-hành Vạn-linh đối-phó mà thôi.

“Ngày Hội Nhơn Sanh là 15-10- Tân Vì ‘24-11-1931’ thì một tháng sau là ngày 15-11- Tân Mùi (23-12- 1931) mới có đàn cơ nầy”.
Như vậy Hội Thánh đã căn cứ vào Đạo Nghị Định thứ 02 và 04; có được sự hướng dẫn trực tiếp trước ngày 15-11- Tân Mùi (23-12- 1931) để tổ chức thực hiện Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh, Thượng Hội.
Sau khi có đàn cơ ngày 15-11- Tân Mùi thì Hội Thánh mới soạn thảo và ban hành Nội Luật như ta thấy trên văn bản hiện nay (x2).

@@@
(x1): Một vài văn bút viết rằng khi đến phẩm Giáo Tông thì không dùng thánh danh Thượng Trung Nhựt mà dùng lại tên khai sanh (Lê Văn Trung).
Nhưng trong Nội Luật Thượng Hội bên dưới ghi rõ:

Làm tại Toà Thánh Ngày 22-Giêng. Nhâm Thân .
(27- Février 1932).

Hộ Pháp.
Ký tên: Phạm Công Tắc. Quyền Giáo Tông.
Ký tên: Thượng Trung Nhựt.

Cho nên tôi theo cách dùng thánh danh.
Điều nầy cho phép ta nghĩ rằng khi thiêng liêng ban thánh danh cho một người nào đó thì thánh danh ấy được dùng suốt đời.
(x2): Bài viết có dùng tư liệu từ một số bài (chưa được Hội Thánh ĐĐTKPĐ kiểm duyệt) của nhiều vị (các vị vui lòng cho dùng). Tôi thấy tin cậy được nên dùng và chịu trách nhiệm về sự chính xác.

@@@@@

(xin lỗi: chỗ ký tên của Hộ Pháp và Giáo Tông đúng ra phải để ngang nhau... nhưng tôi không biết làm sao trình bày theo ý Kính nhờ BQT giúp dùm phần kỷ thuật...)
Kính.
 
TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI &
TRẢ LỜI CÂU HỎI.

( Tiếp theo).

B- PHẦN TRẢ LỜI CÂU HỎI.

Tôi ở vị trí người học hiểu về ĐĐTKPĐ trả lời TN theo văn bản qui định và tự hạn chế việc lý giải vì sao qui định như thế…

Câu hỏi thứ 1: Khi hội này (tức Thượng Hội) nhóm họp và quyết định các vấn đề liên quan đến Giáo hội thì "ai" sẽ tham gia bảo pháp trong trường hợp này.

Trả lời:

Không rõ chữ bảo pháp mà TN dùng đây hàm ý gì? Nếu hiểu chữ bảo pháp theo nghĩa:

a- Có 01 chức sắc Hiệp Thiên Đài dự hội như ở Hội Nhơn Sanh theo qui định nơi Ðiều Thứ Ba:
Một Chức Sắc Hiệp Thiên Ðài đến chứng kiến và bảo thủ Luật Lệ không cho Hội phạm đến.

b- Hội Hội Thánh.
Ðiều Thứ Nhứt:
….
7- Thập Nhị Thời Quân Hiệp Thiên Ðài phải có mặt bửa Hội nhóm đặng lo bảo thủ Ðạo Luật không cho Hội phạm đến.
(TN đối chiếu hẳn nhận thấy ở Hội Nhơn Sanh là 01 người. Ở Hội Hội Thánh là cả Thập Nhị Thời Quân).

c- Thượng Hội.
Thượng hội không qui định “ai” lo bảo thủ pháp luật đạo.
Vì thượng hội chỉ có 11 vị, là những phẩm cao cấp của đạo.
Theo pháp luật đạo thì từ phẩm Đầu Sư của Cửu Trùng Đài nắm cả 02 quyền: chánh trị và luật lệ.
Chưởng pháp là người của Hiệp Thiên Đài nơi Cửu Trùng Đài.
Các phẩm còn lại trong Thượng hội đều có liên quan trực tiếp đến pháp luật đạo.
Tóm lại: Chính các vị đều có trọng trách bảo thủ pháp luật chơn truyền vậy thì “ai” có đủ tư cách để LO bảo thủ luật pháp hơn các vị?

Ai được quyền kiểm soát cả Giáo Tông và Hộ Pháp trong hành chánh tôn giáo?

Đức Chí Tôn dạy rõ: Quyền Chí Tôn tại thế chỉ có quyền vạn linh đối phó. Mà quyền vạn linh là 03 HLQVL mới đối phó được.

Còn như TN hỏi riêng cho Thượng hội thì thiễn nghĩ Giáo Tông và Hộ Pháp là quyền trên cả Thượng hội quyết định theo nội luật Thượng hội vậy.

Nội luật thượng hội do Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt (chưởng quản Cửu Trùng Đài) và Hộ Pháp Phạm Công Tắc (chưởng quản Hiệp Thiên Đài) cùng ký tên ban hành Ngày 22-Giêng. Nhâm Thân (27- Février 1932).

Hộ Pháp lại người chú giải Pháp Chánh Truyền thì hẳn là Ngài có đủ hiểu biết để làm đúng theo PCT.

Hai phẩm nầy hiệp lại mà sai (những điều rất sơ đẳng) thì con thuyền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (ĐĐTKPĐ) mới đi về đâu?

Theo PCT chú giải khi lập luật mà Giáo Tông, Chưởng Pháp, Đầu Sư không thống nhất nhau được thì Hộ Pháp là nơi giải quyết sau cùng.

Nếu một Ðạo Luật nào của Giáo Tông truyền xuống mà nghịch với sự sinh hoạt của nhơn sanh. Ðầu Sư định quyết là không thể thi hành đặng thì chính mình Ðầu Sư phải đệ lên cho Chưởng Pháp mà cầu người sửa cải. Còn như Giáo Tông tiếp đặng một Ðạo Luật nào của Ðầu Sư dâng lên mà phạm phép thiên điều thì chính mình Giáo Tông cũng phải truyền xuống cho Chưởng Pháp xét nét, hai bên không đặng ỷ quyền bỏ luật làm cho thất thể đôi đàng; phải phải phân phân để cho Chưởng Pháp định liệu. Như quyết định mà hai đàng không thuận thì người phải dâng lên cho Hộ Pháp đến Hiệp Thiên Ðài cầu Thầy sửa lại, hay là Hộ Pháp luận ý đôi bên mà lập lại.


Theo Tôi hiểu thì khi đó (1932) chưa có việc chức sắc cao cấp tách ra lập thành chi phái.
Xem thư của Ngài Thượng Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh gởi ông Thái Ca Thanh ký ngày 01-12-1932 và thư ngài Ngọc Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh gởi chư chức sắc chức việc (có sao lục lá thư Ngài Thượng Tương Thanh trên đây) ký ngày 03-12-1932 thì rõ.

Nếu nội luật Thượng Hội sơ sót thì các vị hẳn đã có ý kiến chỉnh đốn.

Đi xa hơn nữa thì sau nầy một số vị tách ra lập chi phái cũng không thấy ý kiến phản đối, hay chỉ ra chổ sai nào trong nội luật thượng hội.

Trong học vấn khi học tiểu học ắt biết cộng, trừ, nhân, chia. Học trung học đệ nhất cấp thì biết căn số, phương trình bậc hai, đồ thị…. Học trung học đệ nhị cấp thì biết phương trình bậc ba, đạo hàm, vi phân, tích phân, logaric, quang học, triết học…. Học đại học thì đi vào chuyên khoa như sư phạm, kiến trúc, văn khoa, luật khoa, y khoa, dược khoa…. Học cao học thì khác nữa…

Những tầng lớp bên trên là để mở mang thêm phần cơ bản lớp dưới chớ không hề phủ nhận cái cơ bản bên dưới. Dù cho học về vi phân, tích phân khi nhân chia vẫn phải theo qui tắc nhân chia chớ không đi ngoài qui tắc nhân chia đặng. Sơ đẳng như bảng cửu chương thì nhà toán học nào cũng phải tuân y; nếu chỉ biết có bảng cửu chương thì không đủ làm toán học. Nhưng nhà bác học mà làm sai bảng cửu chương thì còn chi là giá trị.

Pháp luật của ĐĐTKPĐ cho dẫu diện nào, cấp nào, cũng phải tuân y luật phụng sự chúng sanh theo đệ tam hòa ước: Bác Ái- Công Bằng.

Trong quyển Con Đường Thiêng Liêng Hằng Sống bài số 18: đêm 08-12- Mậu Tý (1948) (bản Ban Tốc Ký). Đức Hộ Pháp dạy rõ:

Mổi khi Bần Đạo thuyết Bần Đạo để một chổ trống để cho tinh thần toàn thể con cái của Đức Chí Tôn kiếm hiểu, chăm thêm cho được cao siêu, chúng ta có thể tiềm tàng được.
Bần Đạo cố gắng đưa chìa khoá cho cả thảy nắm trong tay đặng mở ra hầu dìu dắt cả thảy đi cho trọn vẹn trong khối linh đài của Đức Chí Tôn…


Trường của Thầy có 05 lớp (ngũ chi). Hẳn nhiên bài của lớp trên không hề mâu thuẩn với bài của lớp dưới.
&&&

(còn tiếp).

(Tôi trình bày văn bản rất yếu về thẩm mỹ xin chư vị hảo tâm chỉ giúp. Xin cảm ơn trước).​
 

Trung ngôn

Active member
trần văn chí nói:
Lẽ ra thì trả lời từng câu hỏi của Trung Ngôn nhưng Tôi nghĩ sẽ hữu ích hơn nếu trình bày bằng một bài viết rồi sau đó sẽ trả lời các câu hỏi. Mong rằng bài nầy làm rõ được ít nhiều vấn đề nêu ra.
Kính Huynh,
Trung ngôn rất vui khi cùng Huynh tham gia chủ đề này.
TN tiếp tục chờ đợi phần tiếp theo.
Kính.
 
(tiếp theo câu số 01).

Câu hỏi thứ 2: Việc chức sắc Hiệp thiên đài cùng tham gia công việc hành chánh với chức sắc Cửu trùng đài có ảnh hưởng gì bởi nguyên tắc "chia hai" của Pháp chánh truyền không?
Trả lời:

Do hiền TN không trích dẫn đoạn văn mà hiền căn cứ vào đó để hiểu là nguyên tắc chia hai (Hiệp Thiên Đài & Cửu Trùng Đài) của PCT.

Do vậy Tôi xin phép trình bày nguyên tắc chung.

Thưa với hiền TN người xưa có dạy: Thư bất tận ngôn, ngôn bất tận ý; hay được ý hãy quên lời nên Tôi rất mong hiền đọc những điều chúng ta thảo luận với nhau trong tinh thần đó.

PCT nguyên văn rất ngắn. Để nguyên văn đâu ai hiểu thấu.

Do vậy mà Đức Hộ Pháp được lịnh chú giải (Đến nay gần cuối năm 2012 chưa có một văn bản chú giải nào khác và chắc mãi mãi về sau cũng không ai dám ra một văn bản chú giải thứ hai). Trong chú giải có nhiều điều rất tinh tế.

Theo nội dung PCT chú giải không chỉ có nguyên tắc chia mà còn có nguyên tắc hợp nhất. Chia hay hiệp đều có nguyên tắc và phạm vi cụ thể rõ ràng để tạo sự cộng hưởng trên đường phụng sự vạn linh..

Hiệp nhất nhau trong một tên gọi PCT.
Phân nhau khi lập qua các đàn cơ hay cách gọi: PCT Cửu Trùng Đài Nam Phái, PCT Cửu Trùng Đài Nữ Phái, PCT Hiệp Thiên Đài…
Hay như tên gọi: Hội Thánh ĐĐTKPĐ là chung. Mà trong đó vẫn có Hội Thánh Cửu Trùng Đài (Nam, Nữ) hay Hội Thánh Hiệp Thiên Đài.

- Về chuyên môn (chánh trị và luật lệ): Cấp cần chia thì chia để tránh độc đoán. Cấp cần hợp nhất thì hợp nhất.
+ Cấp phải chia: Ở đỉnh cao nhất.
Phẩm Giáo Tông là anh cả chỉ được nắm quyền chánh trị.
Hộ Pháp nắm quyền về luật pháp.
+ Cấp hiệp nhất:
Phẩm Đầu Sư dưới Giáo Tông thì nắm cả 02 quyền chánh trị và luật lệ.

- Về nhân sự (cài người): Đưa người của Hiệp Thiên Đài vào Cửu Trùng Đài và đưa người của Cửu Trùng Đài vào Hiệp Thiên Đài để thể hiện: Trong Đời có Đạo, trong Đạo có Đời (Đạo: Hiệp Thiên Đài; Đời là Cửu Trùng Đài).

Thí dụ:
+ Cài người:
Chưởng Pháp là người của Hiệp Thiên Đài nơi Cửu Trùng Đài.
Thượng Phẩm, Thượng Sanh là người của Cửu Trùng Đài nơi Hiệp Thiên Đài.
Đó là thí dụ ở Hội Thánh Anh.

Còn Hội Thánh Em (Bàn Trị Sự) vẫn chia (Nam Nữ hay nhiệm vụ riêng từng phẩm) và hiệp:
Chánh Trị Sự nắm cả 02 quyền chánh trị và luật lệ (Đầu Sư Em).
Phó Trị Sự nắm chánh trị -giáo hóa- (Giáo Tông Em).
Thông Sự nắm luật pháp (Hộ Pháp Em).
Đó là những cách chia và hiệp điển hình trong PCT
&&&

Đến đây thiết tưởng nên phân biệt Chánh Trị Đạo và Hành Chánh Đạo.

Chánh trị đạo là hợp nhất (chỉ có một đường lối chánh trị đạo- là thiệt tướng của đạo).

Trong chánh trị đạo mới chia làm 04 cơ quan để thực hiện: Hành Chánh, Phước Thiện, Phổ Tế và Tòa Đạo (Đạo Luật Mậu Dần-1938).

Theo ý chí bộ Đạo luật MD thì Hành Chánh thống quản cả: Phước Thiện, Phổ Tế và Tòa Đạo.
Chứng minh:
Đạo luật Mậu Dần chương Hành Chánh có 17 điều.
Chương Phước Thiện lấy điều 10 và 11 của hành chánh tạo thành.
Chương Phổ Tế lấy điều 14 của hành chánh tạo thành.
Chương Tòa Đạo lấy điều 15 của hành chánh tạo thành.
Như vậy Hành Chánh bao trùm nhưng: Phước Thiện, Phổ Tế và Tòa đạo vẫn được độc lập theo qui định.
&&&

Phạm vi mà TN hỏi đây theo Tôi hiểu là hỏi trong phạm vi thượng hội.

Trong PCT chú giải Đức Hộ Pháp đã giải rõ: Chưởng Pháp là người thay mặt Hiệp Thiên Đài nơi Cửu Trùng Đài. Thượng Phẩm, Thượng Sanh là người của Cửu Trùng Đài nơi Hiệp Thiên Đài.

Cách cài người như vậy cốt để đôi bên có cách tự đã thông (chánh trị và luật lệ) trên đường phụng sự (đồng thời thể hiện cho quẻ Thái trong dịch lý).

Theo luật trong Đại Hội Nhơn Sanh qui định thì chức sắc Hiệp Thiên Đài chỉ lo bảo thủ luật pháp không cho hội phạm đến, nhưng không có quyền bàn luận các nội dung hay bỏ phiếu.

Trong Đại Hội Hội Thánh thì Thập Nhị Thời Quân lo bảo thủ Ðạo Luật không cho Hội phạm đến. Các vị được quyền bàn luận và có quyền bỏ phiếu theo đài mình (02 đài bỏ thăm riêng nhau).

Luật qui định: Nếu một vấn đề nào sau khi bàn cải rồi mà Cửu Trùng Ðài bỏ thăm thuận còn Hiệp Thiên Ðài thì bỏ thăm nghịch hoặc là Cửu Trùng Ðài bỏ thăm nghịch mà Hiệp Thiên Ðài bỏ thăm thuận thì vấn đề ấy phải bàn tính mà bỏ thăm lại.
Nếu hai phen bàn cải mà vẫn cũng còn phản khắc nhau thì Chánh Chủ Hội tuyên bố liền rằng vấn đề ấy sẽ dâng lên Thượng Hội định đoạt. (điều 01).

Thượng hội thì từ Chưởng Pháp trở xuống bỏ phiếu.

Giáo Tông và Hộ Pháp vẫn giử quyền riêng nên sau đó mới có việc hội ý.

Những qui định trên đã làm sáng tỏ rằng: ngồi họp thì chung nhưng quyền thì vẫn độc lập riêng và sau cùng đi đến thống nhất để thi hành.
Hội Thánh ĐĐTKPĐ thực hiện 03 HLQVL từ khi ban hành đến khi giải thể (1979) không hề thấy ai kêu ca là có trở ngại hay vi phạm PCT chi cả.

Ông ký giả Nguyễn Phan Long có đủ kiến thức để làm thủ tướng Nam Phần mà vẫn không hiểu được điều rất tinh tế là đạo có Quyền Vạn Linh (là hội riêng 03 hội) chớ không có Hội Vạn Linh (nhân sự 03 hội cùng ngồi trong phiên họp) nên mới bị hố khi tổ chức Hội Vạn Linh mà đạo sử còn lưu lại.

Cả 03 HLQVL bàn về tất cả các vấn đề của chánh trị đạo chớ không riêng gì việc lập luật.

Tìm hiểu hành chánh tôn giáo ta phải nhìn nhận rằng:

+ Cửu Trùng Đài có 03 quyền: hành pháp, quyền lập luật, quyền xét xử (tạp tụng).

Quyền lập luật thể hiện qua 02 con đường: PCT và 03 HLQVL như đã trình bày.
Quyền xét xữ thể hiện qua:
+a- Đạo Nghị Định thứ 4 điều 02 và 05:
Ðiều thứ nhì: - Ngọc Chánh Phối Sư, đặng quyền trị Chức Sắc phần Ðạo, và phần Ðời, coi Chơn Truyền Hội Thánh, buộc Chức Sắc làm y phận sự
Ðiều thứ năm: - Ngọc Chánh Phối Sư, cầm quyền sửa trị cả Chức Sắc, Tín Ðồ, thì quyền tạp tụng cũng nơi người nắm chặt.
+b: Hòa viện trong Cửu Viện là nơi để xét xữ vậy.
+c: Đi sâu hơn nữa thì có Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài.
+d: Tân Luật chương VII: Về hình phạt.
Điều Thứ Hai Mươi Sáu: Trong bổn đạo ai có phạm luật pháp về mấy điều khoản nhẹ, thì về quyền người làm đầu trong Họ phân xử và đặng răn phạt quì hương tụng Kinh Sám Hối.
Điều Thứ Hai Mươi Bảy: Như phạm tội trọng hay là tái phạm, thì phải đệ lên cho Hội Công Đồng phán đoán.
Hội ấy một vị Đầu Sư hay là Phối Sư phái mình làm đầu và có hai vị Chức Sắc hai phái kia nghị án. Hội nầy được quyền trục xuất.
Điều Thứ Hai Mươi Tám: Về đường đời bổn đạo có xích mích nhau, cũng phải đến cho người làm đầu trong Họ phân giải.
Điều Thứ Hai Mươi Chín: Chư Chưc Sắc, ai có phạm luật pháp trong đạo, thì đem trước Tòa Tam Giáo phân xử.

+ Hiệp Thiên Đài có 02 quyền: lập luật (cao nhất) và có quyền xét xử (cao nhất).

Xem hiến pháp Hiệp Thiên Đài sẽ thấy rất quyền hành HTĐ đặc biệt so với Cửu Trùng Đài trong tư pháp và lập pháp.

Thí dụ cụ thể:
Điều Thứ Tám:
Cửu Trùng Đài có Tòa Tam Giáo thành lập, cũng như Bát Quái Đài có Tòa Tam Giáo Thiêng Liêng.
Khi nào có Tòa Tam Giáo Cửu Trùng Đài xử đoán rồi mà người bị cáo còn uất ức điều chi, thì được quyền kêu nài đến Tòa Hiệp Thiên Đài.
Thảng như Tòa Hiệp Thiên Đài phán đoán rồi mà người bị cáo uất ức nữa, thì mới kêu nài lên Tòa Tam Giáo Thiêng Liêng là quyền đặc biệt của Bát Quái Đài Chưởng Quản.
Dầu cho lập Tòa Tam Giáo dưới Cửu Trùng Đài, hay là đệ lên Tòa Tam Giáo Thiêng Liêng là Bát Quái Đài, cũng đều phải do nơi Hộ Pháp.

&&&

Đức Hộ Pháp dạy:...Mổi vị Tín Đồ đều có cái mão của Giáo Tông và Hộ Pháp đội trước trên đầu, không lấy được là lỗi tại mấy em…(LTĐ.Q2.tr 122-bản in 1973).

ĐĐTKPĐ là đạo lập quyền cho nhân loại thì không có khu vực cấm tuyệt đối mà cấm là cấm từng phân khúc khi cần để không phát sinh tình trạng cát cứ làm tan nát chánh trị đạo hay hành chánh tôn giáo.

Luật 03 HLQVL cho phép điều chi cần thì có quyền đệ trình văn bản cho toàn hội xem xét. Xem xét rồi cứ thế mà thi hành cấm việc tự ý sửa đổi, phê bình không đúng chổ.

Thử hình dung trong tang tế sự mà có người phát biểu những điều ngược với qui định rồi yêu cầu mọi người phải làm theo thì nền đạo có giá trị chi trước mắt người lương và giáo.

Đó là qui định còn như hiểu qui định như thế có giá trị thế nào, chấp nhận hay không là tùy nhận thức mổi người.
Phần Tôi cam đoan là trình bày theo đúng văn bản qui định.
&&&


@@@

PHẦN NHỜ GIÚP ĐỞ.
Kính quí hiền.

Tôi gặp khó ở phần kỷ thuật....
Khi gởi bài xong liz chổ gởi bài nó trơ ra không nhận lịnh bài bị mất....
hiền nào biết cách khắc phục chỉ dùm
Xin cảm ơn trước.
Kính

@@@
 
Sửa lần cuối:
TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI &
TRẢ LỜI CÂU HỎI.

(TIẾP THEO).​

Câu hỏi thứ 3:
Theo nội dung của điều thứ nhất thì việc Thượng hội có phẩm Đầu sư Nữ phái tham gia cùng các Giáo phẩm Nam phái ở Thượng Hội để nhóm họp có ảnh hưởng gì đến Pháp chánh truyền hay không (lúc này là xen lộn)?
Dĩ nhiên, họp là tham gia, thảo luận, bàn bạc hoặc thống nhất để đi đến một quyết định liên quan đến luật pháp chẳng hạn.
Xin kính lời với mục đích học hỏi.

Trả lời:
Câu hỏi số 2 TN nêu vấn đề Hiệp Thiên Đài và Cửu Trùng Đài tham gia công việc chung.
Câu hỏi số 3 TN nêu vấn đề Nam Nữ họp chung.

Xã hội vẫn luận giải độc lập không phải là cô lập hay biệt lập. Độc lập bao hàm tự chủ khi liên đới công việc với nhau trong cộng đồng.

Thực tiễn hành đạo trong tang tế sự: Khi người mất là Nam thì Bàn Trị Sự Nam phái chủ trì nhưng Bàn Trị Sự Nữ phái vẫn có mặt để chung lo. Khi người mất là Nữ thì Bàn Trị Sự Nam phái lại chung lo với Nữ phái. Hiểu được thực tế đó sẽ thông được nhiều điều khác.

Theo nội luật thì trong cả 03 Hội Lập Quyền Vạn Linh qui định cả Nam và Nữ đều hội chung và quyết định chung chớ không riêng gì cho Thượng hội.

TN lưu ý rằng PCT Cửu Trùng Đài (Đời, thể xác) phân Nam, Nữ.
Nhưng PCT Hiệp Thiên Đài (Đạo, chơn thần) không phân biệt Nam Nữ.

Chức sắc Cửu Trùng Đài Nam Nữ khi cầu phong, cầu thăng phải qua 03 HLQVL rồi mới ra cung Đạo. Cửu Trùng Đài là đời nên có phân biệt Nam Nữ khi hành chánh. Cả Tân Luật (Phần Đạo Pháp) hầu như chỉ qui định công việc của Chức sắc theo PCT Cửu Trùng Đài.

Hiệp Thiên Đài là đạo. Chức sắc Hiệp Thiên Đài ở trong hành chánh đạo nhưng không cầm quyền hành chánh (theo Đạo Luật Mậu Dần- 1938) nên khi thăng phẩm do đặc quyền của Đức Hộ Pháp (không qua 03 HLQVL).

Trong phương diện trao đổi thêm thiễn nghĩ TN nên phân biệt lập quyền (đề ra chương trình, ví như soạn tuồng) khác với hành quyền (thực hiện chương trình ví như trình diễn trên sân khấu). Không có một tuồng hát nào chỉ có Nam không Nữ hay ngược lại mà thành công cả.

Quyền Nam Nữ phân biệt là khi HÀNH QUYỀN (thuộc về hành chánh đạo) trong hành chánh (nhưng vẫn cùng chung lo với nhau) để việc phục vụ nhơn sanh có hiệu quả cao nhất. Hành quyền là thực hiện những điều đã thống nhất. Nam Nữ chi cũng phải làm đúng qui định không được tự ý cải sửa.

Còn LẬP QUYỀN (thuộc về chánh trị đạo) là bàn tính, kiểm điểm, cho quyền đưa ý kiến sửa đổi, thêm bớt (thậm chí nẫy sanh thêm phần mới) và toàn hội đưa ra quyết sách.

Quyết sách vận trù thì cả Nam và Nữ nhóm chung. Nhưng vẫn có phân phái theo cả 02 nghĩa: Nam, Nữ và chuyên môn của Phái Thái, Thượng, Ngọc.

+ Phân theo Nam Nữ ở cả 02 hội (nếu bên Nam hay Nữ cần).
Nhưng trước khi nhóm chung thì ở 02 hội: Hội Nhơn Sanh và Hội Hội Thánh vẫn có cho quyền nhóm riêng khi cần.

Nội Luật Hội Nhơn Sanh điều 11:
Ðiều Thứ Mười Một:
Trước bửa Ðại Hội mà Nam Nữ Phải nhóm chung nhau Thượng Chánh Phối Sư hoặc Nữ Chánh Phối Sư có điều chi phải hỏi ý kiến riêng Hội viên phái của mình thì được quyền mời nhóm (Nam theo Nam Nữ theo Nữ).
Kỳ nhóm nầy Từ hàng phái nào theo phái nấy, lập vi bằng hai bổn. Nghị trưởng và Từ hàng ký tên để lưu chiếu một bổn còn một bổn thì như Chánh Phối Sư Nam thì gởi cho Chánh Phối Sư Nữ; còn Nữ Chánh Phối Sư thì gởi cho Chánh Phối Sư Nam hầu hiểu rõ những điều mà mổi phái đã bàn tính
.

Nội Luật Hội Thánh.
Ðiều Thứ Mười Một:
Trước bửa Ðại Hội mà Nam Nữ phải nhóm chung nhau. Thái Chánh Phối Sư hoặc Nữ Chánh Phối Sư có điều chi phải hỏi ý kiến riêng Chức sắc phái của mình thì được quyền mời nhóm riêng (Nam theo Nam; Nữ theo Nữ).
Kỳ nhóm nầy Từ Hàng phái nào theo phái nấy. Lập vi bằng hai bổn Nghị trưởng và Từ hàng ký tên để lưu chiếu một bổn còn một bổn thì như Chánh Phối Sư Nam thì gởi cho Chánh Phối Sư Nữ. Còn Chánh Phối Sư Nữ thì gởi cho Chánh Phối Sư Nam hầu hiểu rõ những điều của của mỗi phái đã bàn tính.


Trong thượng hội thì chỉ có 01 vị Nữ Đầu Sư do đó không có qui định nhóm riêng (một mình làm sao gọi là nhóm?).

+ Phân theo 03 phái (bắt buộc):
Phái Thái: Hộ, Lương. Công.
Phái Thượng: Học, Y, Nông.
Phái Ngọc: Hòa, Lại, Lễ.

Đạo Luật Mậu Dần (1938) qui định nơi điều 01. khoản V. mục 1.
Chương-trình về Hội Quyền Vạn Linh phải gởi các nơi trước ngày hội ít nữa là ba tháng, và phải phân biệt vấn đề theo mỗi Phái.

Trong đàn cúng nơi Đền Thánh, Cửu Trùng và Hiệp Thiên có phân biệt, cấp bậc có phân biệt, Nam Nữ có phân biệt. Đến như đàn cúng Phật Mẫu thì không phân biệt Hiệp Thiên hay Cửu Trùng, không phân cấp bậc, chỉ còn phân ra Nam Nữ.

Có diện theo đạo tin vào Hội Thánh nên đã qui định thì cứ thế thi hành cũng đạt an lạc, cũng quí. Có diện lấy làm lạ rồi đi tìm hiểu cho ra do nguyên cớ nào qui định như thế cũng đáng trân trọng, đáng quí vậy.

Hiểu được nguyên cớ a, nguyên cớ b rồi mới thấy vui (Thanh quang rỡ rỡ đòi ngàn, Chơn hồn khoái lạc lên đàng vọng Thiên- Kinh Đệ Tam Cửu).

Bài toán lớn bao gồm nhiều bài toán nhỏ. Hiểu được nhiều cái nhỏ đến lúc nào đó tâm thức bừng sáng đấy lúc bước vào giai đoạn khai mở nhiều thắc mắc trước đây: Đắc văn sách thông thiên định địa, Phép huyền công trụ nghĩa hóa thân- Kinh Đệ Ngũ Cửu).

Càng hiểu biết thì tình thương càng trãi rộng giữa người và người, người và vạn vật. Đối nhân xữ thế theo lẽ bác ái công bằng. Tự mình làm quan tòa cho mình để quán xét chính mình trong chính kỷ, hóa nhân xem có khiếm khuyết chi không mà lên chương trình chỉnh đốn, bổ túc phải chăng là nghĩa của câu kinh: Cung Lập Khuyết tìm duyên định ngự, Lãnh kim sa đặng dự Như Lai. (Kinh Đệ Lục Cửu).

Trong các phẩm bậc của ĐĐTKPĐ ở Cửu Trùng Đài thì phẩm Chưởng Pháp được chánh danh trong câu kinh: Cung Chưởng Pháp xây quyền tạo hóa (Kinh Đệ Thất Cửu). Muốn biết vì sao mà phẩm Chưởng Pháp có cơ duyên đó thiễn nghĩ tìm xem PCT chú giải phần Chưởng Pháp; và phần Đức Chí Tôn trả lời Đức Hộ Pháp khoản xin cho Đầu Sư Nữ Phái được lên phẩm Chưởng Pháp mà Thầy không cho…. ắt rõ ít nhiều.

Người may duyên đến cảnh giới biết được thiên thời, địa lợi, nhân hòa, biết được tam diệu tam bồ đề của ĐĐTKPĐ là tam lập (lập công, lập đức, lập ngôn) là biết chuyển họa vi phước phải chăng là phần nào ý nghĩa câu kinh: Cung tận thức thần thông biến hóa (Kinh Đệ Bát Cửu). Trong vô lượng kiếp nếu có một kiếp sinh nào hưởng được chút ân phước trong cõi tận thức thì thật là vạn hạnh; cứ nghĩ đến thôi cũng làm cho hành giả nôn nao thích thú….

Vòng vo tam quốc mấy điều giờ xin trở lại đề tài…

Vì sao ĐĐTKPĐ ngay từ buổi đầu đã công bố xây dựng một thế giới đại đồng trên nền tảng bác ái công bằng?

Bởi vì trong tôn giáo có bài bản lập quyền cho nhân loại.
Bài bản đó thể hiện qua cơ chế 03 HLQVL.
Chính nhân loại sẽ tự thân xây dựng thế giới mà nhân loại mơ ước chớ không phải chờ ai làm sẳn đó cho mình thụ hưởng. Cái đẹp của quê hương anh do chính anh xây dựng mà có.

Ý dân là ý Trời, sức dân là sức Trời. Điều mà nhân loại muốn thì Trời giúp cho đường lối, công thức, mô hình còn thực thi là chính nhân loại phải làm chớ Thầy không bồng ẳm nhân loại vào địa vị họ muốn bao giờ.

ĐĐTKPĐ đóng vai như một phòng thí nghiệm trong công cuộc phát minh. Đầu tiên là có ý tưởng rồi tổ chức và thực thi cho hoàn chỉnh. Khi sản phẩm đã hoàn chỉnh thì mới cống hiến cho nhân loại.

Kinh Thánh có câu: …chút men làm dậy cả đống bột…
Ngày nay thời toàn cầu hóa biết bao nhiêu hiền nhân quân tử yêu mến lẽ bác ái, công bằng nên mới lập ra nào là Hồng Thập Tự Quốc Tế, Thầy Thuốc Không Biên Giới, …. để giúp cho nhân loại. ĐĐTKPĐ chính là tài nguyên, là môi trường để gắn kết những tâm hồn cao thượng nhìn thấy nổi đau của nhân loại muốn chia xẽ với họ và cùng dắt dìu nhau ra khỏi thảm cảnh.
Thế giới đại đồng là điều mơ hồ, xa vời với người không hiểu thể pháp của Thầy bố trí trong ĐĐTKPĐ nhưng với người lưu tâm học hỏi hiểu biết ít nhiều thì nó hoàn toàn hiện thực và người đạo hoàn toàn có đủ điều kiện thực thi khi 03 HLQVL được thực thi đầy đủ và đúng ý nghĩa của nó.

Ý tưởng được Trời gieo hạt và nẫy mầm.
Mầm đã nẫy thì trân trọng, gìn giữ như bảo vật quí hiếm. (Bảo).
Của quí trong tay thì phải tìm hiểu sản phẩm, khai thác cho hoàn chỉnh. (Khai).
Khai thác được thì phải xã hội hóa, phải cống hiến. (Hiến).
Cống hiến cho xã hội sản phẩm tốt, giá thành như ý thì hẳn nhiên xã hội hoan nghinh và nhân rộng ra. (Tiếp).
Thiễn nghĩ đó là luật công bằng và lòng bác ái của Đại Từ Phụ vậy.

Tóm lại: Phân ra Nam Nữ vẫn có và không phân Nam Nữ vẫn có.

Bạn xem lại nội luật, kết hợp với thực tế xã hội và thực tế đạo sự sẽ thông.
Nếu điều nầy mà sai thì cả nền ĐĐTKPĐ không có giá trị chi.
Nó giống như nhà bác học mà không thông bản cửu chương vậy…
&&&

(còn tiếp câu số 4)
 
Sửa lần cuối:
TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI &
TRẢ LỜI CÂU HỎI.​

(TIẾP THEO CÂU 3)​

TRẢ LỜI CÂU 4:

Câu hỏi thứ 4:

Một hoặc hai hoặc cả ba được phép dâng luật hay không theo Pháp chánh truyền?

Trả lời:

Việc lập luật của ĐĐTKPĐ theo Tôi học hiểu thì có 02 con đường: Theo qui định trong PCT và theo qui trình của 03 HLQVL.

a- Theo Pháp Chánh Truyền.

+ PCT qui định phẩm Đầu Sư có quyền dâng luật. Việc dâng như thế nào chú giải đã nói rõ xin miễn nhắc lại.

+ Theo nội luật Thượng Hội điều thứ ba thì các vị Đầu Sư dự Thượng Hội với tư cách là nghị viên thì không có qui trình dâng luật.

Các vị tham gia vào việc bàn luận và quyết định những nội dung từ 02 hội bên dưới dâng lên.

Nội luật Thượng Hội. Ðiều Thứ Ba:

Thượng Hội để xem xét và phê chuẩn.
1- Các điều của Hội Nhơn Sanh và Hội Thánh bàn luận về việc Ðạo.
2- Các điều ước (voeux) của Hội Nhơn Sanh và Hội Thánh.Trừ ra các điều nào hoặc của Hội Nhơn Sanh mà Hội Thánh đã đánh đổ hay là của Hội Thánh mà đã bị Hội Nhơn Sanh đã đánh đổ thì không được phép đem vào Thượng Hội nếu không có đơn của hai ông Chủ Hội kêu nài.
3- Thượng Hội bàn luận và định đoạt các việc cần gấp hoặc yếu trọng phải ban hành trong Ðạo.


b- Lập luật theo qui định 03 HLQVL.

Ngoài qui trình lập luật theo PCT dành cho chức sắc Thầy còn ban quyền cho nhơn sanh lập luật theo con đường 03 HLQVL.

Đây là điều đặc sắc của ĐĐTKPĐ. Nó báo hiệu cho việc mạnh dạn hủy bỏ những điều không phù hợp và thiết lập những luật lệ phù hợp với luật tiến hóa và phụng sự vạn linh trên nền tảng Bác Ái – Công Bằng.

+ Nội luật HNS. Điều 04 khoản 04. Ðiều Thứ Tư:

Hội Nhơn Sanh để bàn tính những việc sau nầy:
4- Xin sửa cải thêm bớt hay huỷ bỏ những luật lệ của Ðạo không phù hợp với trình độ trí thức tinh thần của Nhơn Sanh.
Hơn nữa 03 HLQVL bàn về tất cả các vấn đề của chánh trị đạo chứ không riêng gì lập luật.


+ Nội luật hội Hội Thánh.

Ðiều Thứ Ba:

Hội Thánh bàn định mấy việc sau đây:
1- Các vấn đề của Hội Nhơn Sanh đã bàn định hoặc của Thượng Hội gởi xuống đặng lập phương ban hành.
2- Lo về sự phổ độ, việc hành đạo tha phương, tài liệu, tài chánh của Ðạo và cả nền Chánh Trị của Ðạo.
3- Bàn cải và công nhận sổ phỏng định thâu xuất năm tới.
4- Xin sửa cải thêm bớt hay là huỷ bỏ những luật lệ không phù hạp với sự tấn hoá về tâm trí nhơn sanh.
5- Các việc có ảnh hưởng về nền Ðạo.

&&&

Thiễn nghĩ nếu có một điều luật nào đó có trong chương trình 03 HLQVL thống nhất thì dâng lên quyền Chí Tôn tại thế (là quyền Giáo Tông và Hộ Pháp) quyết định.

Đó là qui trình lập luật theo 03 HLQVL.

Dù theo đường 03 HLQVL thì việc ban hành luật vẫn phải do nơi Cửu Trùng Đài ban hành.

(CÒN TIẾP CÂU SỐ 5).
 
Sửa lần cuối:
TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI &
TRẢ LỜI CÂU HỎI.​

(TIẾP THEO CÂU 4)​

Câu hỏi thứ 5:

Một vị đầu sư có quyền dâng luật hay chỉ có tỷ lệ 1/11 phiếu thuận cho việc dâng luật khi Thượng hội này hoạt động (11 vị khi Thượng hội nhóm họp và đầu đủ nhất)? Có nghĩa là tại hội này, quyền hạn của Đầu sư giảm còn 1/11 trong khi PCT cho phép là 100% quyền lập luật.

Trả lời:

Xin nói rõ khi bỏ phiếu ở thượng hội thì chỉ có 09 vị bỏ phiếu. Giáo Tông và Hộ Pháp không có bỏ phiếu. Vậy TN nên xác định: hiểu tỷ lệ 1/11 là sai, hiểu tỷ lệ 1/9 mới đúng.

TN xem phần trả lời câu hỏi thứ tư và phần bài viết bên trên thì hẳn đồng ý rằng câu hỏi của TN đã được trả lời (phẩm Đầu Sư không có qui trình dâng luật khi dự Thượng Hội).
&&&

(CÒN TIẾP)
 
PHẦN THỈNH Ý.

TRONG CÂU SỐ 09.​

Nhưng theo Tôi hiểu đây là phần ngoài 09 câu hỏi của hiền TN.

TN viết:

Một số Hội thánh chuẩn bị công tác tu chỉnh Hiến chương, Đạo quy, …một khi không cân nhắc kỹ lưỡng các chức năng và nhiệm vụ lẫn cơ cấu nhân sự thì sẽ đưa Thượng Hội vào thế mâu thuẩn với Pháp chánh truyền. Nhất là các giáo phẩm Hiệp thiên đài cùng tham gia hành chánh cùng Cửu trùng đài; ở vị trí này thì thực sự là ai sẽ “bảo pháp” cho việc “vừa đá banh vừa thổi còi”.
Thực sự đây là điểm yếu chung khi mà các giáo phẩm hiện tại được phép “lập luật” đều ở tuổi “cổ lai hy” và thêm nữa là chưa ai “qua” khóa về logic học nên việc xây dựng các điều khoản đều nằm trong vòng lẩn quẩn dẫn đến mâu thuẩn nội tại lẫn mâu thuẩn với luật cơ bản là Pháp chánh truyền; hệ quả tất yếu là luật được lập ra "bỗng dưng" vô hiệu ngay sau khi ban hành, thấm chí là triệt tiêu không cho phép chỉnh sửa, tu chỉnh là khác (đã phân tích trong một Hiến chương tại diễn đàn này) và còn tệ hơn nữa là lập luật song mà “quên” hay công bố hay ban hành bằng một văn bản có hiệu lực nhưng lại buộc tất cả chức sắc lẫn nhân sanh phải tuân hành


Đây là phần hiền TN nhận định, đánh giá về các giáo phẩm và Hội Thánh mà hiền có thông tin và tìm hiểu….

Nó giống như lời phê bình và cảm thán nên không tiện bàn luận nơi đây.

Qua đoạn trên Tôi hiểu là có một số Hội Thánh đã biên soạn Luật Lệ 03 HLQVL riêng. Nếu hiền có luật về 03 HLQVL các nơi mới lập thì post lên cho tôi tham khảo với.

Cho phép Tôi nhờ hiền xác định câu:

(đã phân tích trong một Hiến chương tại diễn đàn này) là hiền muốn đề cập đến hiến chương nào?

KÍNH THỈNH Ý.
 
Sửa lần cuối:
TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI &
TRẢ LỜI CÂU HỎI.​

TIẾP THEO CÂU SỐ 05.​


Câu hỏi thứ 6:

Pháp chánh truyền cho phép 3 vị Đầu sư nắm quyền "thống nhất" khi Hội thánh "nguy biến", lúc này cả Giáo tông và Hộ pháp phải chịu. Vậy khi ở hội này 3 vị Đầu sư có được sử dụng quyền "thống nhất" mà Pháp chánh truyền đã trao hay không? Có nghĩa là nếu không có quyền thống nhất như PCT cho phép thì Đầu sư chỉ có quyền bỏ phiếu ở tỷ lệ 1/11.
Cùng một vị trí nhưng có thể Đầu sư có toàn quyền lập luật hoặc cả ba có quyền "thống nhất", dù Giáo tông hay Hộ pháp cũnh phải tùng; hoặc chỉ có một phiếu trong số 11 phiếu cho cùng một vấn đề.

Trả lời:

Theo nội luật Thượng Hội.

Ðiều Thứ Mười Một:

Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp một thì là quyền Chí Tôn nên không có bỏ thăm.

Nếu cả ba hội phản khắc nhau thì quyền Chí Tôn nghĩa là của Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp một chủ định thể nào thì Chánh Trị của Ðạo y theo thế ấy.
Còn như quyền hành Giáo Tông và Hộ Pháp phản khắc nhau nửa thì cả thảy về chánh trị và chúng sanh đều bị huỷ bỏ.
Chừng ấy Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh, Thượng Hội phải nhóm lại mà định đoạt sửa cải lại nửa.
Nếu có việc chi trái Luật Ðạo thì Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp cùng nhau đặng trọn quyền ban truyền xuống cho Ðầu Sư định đoạt lại.

Đó là nội luật Thượng Hội.

Đức Hộ Pháp có giải thích thêm (trích dẫn bên trên):

khi nào Hội Thánh và Hội Nhơn Sanh phản khắc cùng nhau làm nền Đạo chinh nghiêng nguy hiểm thì Đầu Sư mới đặng thống quyền nắm Đạo pháp thi hành chánh trị.

(Quyền Thống nhứt phải có đủ quyền Vạn linh và quyền Chí Tôn hiệp đồng ban cho mới đặng)….


Khi Đầu Sư được giao quyền thống nhất thì dĩ nhiên có đầy đủ quyền hành như Pháp Chánh Truyền qui định.

CON TIẾP CÂU SỐ 07.
 
Sửa lần cuối:
TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI &
TRẢ LỜI CÂU HỎI.​

(TIẾP THEO CÂU 6).​

CÂU SỐ 7.

Hiền TN viết:

Câu hỏi thứ 7:

Phẩm Chưởng pháp tham gia tại Thượng hội, vậy quyền của Quý Ngài có bị hạn chế chỉ còn 1/11 trên tổng số phiếu khi "xét nét" để bác luật không ??

Câu hỏi phụ:

Giáo phẩm được đặc cách bảo tồn pháp luật tại Cửu trùng đài cùng tham gia hành chánh đạo với các chức sắc Hiệp thiên đài có được xem ảnh hưởng đến Pháp chánh truyền hay không ??
Kính lời học hỏi.

Trả lời:

Phần câu hỏi chính thiết tưởng đã được trả lời từ câu hỏi thứ tư trở đi.

TN cần phân biệt:

+ Phẩm Chưởng Pháp tham gia vào tiến trình lập luật ở Pháp Chánh Truyền thì có quyền theo qui định ở PCT.

+ Phẩm Chưởng Pháp tham gia vào thượng hội có nhiệm vụ theo qui định nội luật thượng hội (09 vị thì có 09 phiếu, mổi phiếu có giá trị bằng nhau nên khi bỏ phiếu bên nào nhiều phiếu sẽ đạt).

Hai tiến trình khác nhau không nên lẫn lộn. TN đọc và minh lý lại sẽ rõ.

(câu hỏi phụ đã trả lời ở câu hỏi số 02).

Phần TN viết:…

Giáo phẩm được đặc cách bảo tồn pháp luật tại Cửu trùng đài cùng tham gia hành chánh đạo với các chức sắc Hiệp thiên đài có được xem ảnh hưởng đến Pháp chánh truyền hay không ?

Theo tôi đã trình bày bên trên hẳn hiền nhận thấy viết cùng tham gia hành chánh đạo như vậy là do hiền hiểu sai.

Bởi vì 03 HLQVL nói chung (Thượng Hội nói riêng) là chánh trị đạo chớ không phải hành chánh đạo.

Hành chánh đạo là một phần của chánh trị đạo mà thôi.

Đạo luật Mậu Dần (1938) nói rõ: …nền chánh trị đạo của Đức Chí Tôn có 04 cơ quan là: Hành Chánh, Phước Thiện, Phổ Tế và Tòa Đạo….

Nội luật Thượng Hội Điều thứ 9 và 11 cũng nói rõ. (ĐÃ TRÍCH DẪN BÊN TRÊN XIN MIỄN TRÍCH LẠI).

Hiền TN xem lại để minh lý chánh trị đạo khác với hành chánh đạo.

(CÒN TIẾP CÂU 8)
 

TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI &
TRẢ LỜI CÂU HỎI.​



(TIẾP THEO)​


Câu hỏi thứ 8:

Khi hội này (Thượng hội) nhóm họp thì có phải Quyền Chí tôn đã xác lập do có 2 phẩm Giáo tông và Hộ pháp biểu quyết cùng tán thành hay cùng không tán thành một việc liên quan đến giáo hội, bất chấp quyền biểu quyết của các thành viên còn lại trong Thượng hội là 9/11 phiếu ???

Câu hỏi phụ (vẫn như cũ):

Ai sẽ tham gia "bảo tồn pháp luật" khi Hội Thượng hội nhóm họp mà lúc đó có 3 phẩm bảo vệ pháp luật của Cửu trùng đài (3 vị Chưởng pháp) lẫn 3 phẩm bảo vệ pháp luật của Hiệp thiên đài (vị Hộ pháp, vị Thượng sanh và vị Thượng phẩm) cùng tham gia hành chánh đạo với Quyền Chí tôn tại thế (Phẩm Giáo tông + Phẩm Hộ pháp). Thêm vào đó cùng Phẩm Đầu sư Nữ phái mà Pháp chánh truyền không cho phép "xen lộn" cùng Nam phái.

Trả lời:

Trong câu hỏi thứ 8 TN cũng đã nhận ra khi bỏ phiếu thì thượng hội chỉ có 09 phiếu (vì Giáo Tông và Hộ Pháp không bỏ phiếu).

Ðiều Thứ Mười Một:

Giáo Tông và Hộ Pháp hiệp một thì là quyền Chí Tôn nên không có bỏ thăm….

Ðiều Thứ Mười Bốn:

Sau khi hội Thượng Hội thì Giáo Tông và Hộ Pháp phải đình Hội lại 15 phút đồng hồ đặng hai người vào Ðại Ðiện mật nghị rồi phải trở ra cho Thượng Hội hay những điều của hai đàng nhứt tâm quyết định.

(Như vậy kết quả bỏ thăm ở thượng hội chưa phải là cuối cùng; mà sự định quyết của nhị vị Giáo Tông và Hộ Pháp sau khi mật nghị nơi đại điện mới là chung quyết)
&&&

Câu hỏi phụ:

Hiền TN viết: …cùng tham gia hành chánh đạo với Quyền Chí tôn tại thế…(Phần hiểu sai nầy đã giải thích ở câu số 7).

&&&

Vấn đề các phẩm tham gia như thế có đúng Pháp Chánh Truyền không?

Theo tôi hiểu là đúng với PCT (đã giải thích rõ ở câu 02 và 03).

Nếu hiền TN thấy có sai phạm khoản nào trong PCT thì trưng ra để cùng nhau phân tích. Nơi thập mục sở thị nếu có sai với PCT thì muốn che dấu cũng không làm sao che dấu được.

Chữ nghĩa thiêng liêng dùng có lắm khi không như thường nghĩ.

Phật Học Tinh Hoa cụ Nguyễn Duy Cần có nhắc lời Đức Thế Tôn: Lời ta nói nó giống như chiếc bè đưa khách sang sông, khách sang sông rồi thì để bè lại đó chớ có vác lên vai mà đi.

Thí dụ như Pháp Chánh Truyền Nữ Phái ban quyền cho Đầu Sư Nữ Phái:…Nữ Đầu Sư quyền như Nam Phái .

Nhưng cũng trong PCT chú giải có qui định:

+ …Luật Lệ nào của Giáo Tông truyền xuống hay là của nhơn sanh dâng lên mà đã có Chưởng Pháp và Hiệp Thiên Đài phê chuẩn, thì dầu cho một người trong ba mà chịu vâng mạng thì Luật Lệ ấy cũng phải buộc ban hành. Hay..(1) Trừ ra khi nào ba người đồng không thể tuân mạng lịnh đặng, thì luật lệ ấy phải trả lại cho Giáo Tông; buộc Giáo Tông phải truyền xuống cho Chưởng Pháp xét nét lại nữa,

+ PCT:

"Như luật lệ nào Giáo Tông đã truyền dạy mà cả ba đều ký tên không tuân mạng, thì luật lệ ấy phải trả lại cho Giáo Tông, Giáo Tông truyền lịnh cho Chưởng Pháp xét nét lại nữa".

CHÚ GIẢI:

Thầy đã nhứt định rằng: Nếu cả ba đồng ký tên không vâng mạng đặng, thì Thầy đã chắc chắn rằng luật lệ ấy quả nghịch với nhơn sanh;...

Theo trích dẫn trên có nghĩa là việc ban hành luật chỉ có 03 vị Đầu Sư Nam Phái có quyền bày tỏ ý kiến chớ Nữ Đầu Sư không có quyền bày tỏ ý kiến khi ban hành luật.

(ấy là như mà không y như).

(CÒN TIẾP CÂU SỐ 09)
 

TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI &
TRẢ LỜI CÂU HỎI.​


(TIẾP THEO CÂU SỐ 08)​


câu hỏi thứ 9
(TÔI KHÔNG HIỂU HIỀN TN muốn hỏi chi).​

Hiền TN viết:

8 câu hỏi ở trên được đặt ra trên cơ sở Pháp chánh truyền và các giáo phẩm ở vị trí độc lập. Nay các giáo phẩm được đặt chung trong một cơ cấu tổ chức là Thượng hội. Mới đọc qua, xem xét không kỹ thì sẽ thấy ngay là mâu thuẩn Pháp chánh truyền.

Song, có lối ra nào cho cơ cấu tổ chức Hội này không phạm Pháp chánh truyền khi hội và họp?

Đây là câu hỏi thứ 9.


Câu trả lời sẽ được đưa ra sau 1 năm nữa và dĩ nhiên là chỉ ở góc độ cá nhân mà thôi.

Một số Hội thánh chuẩn bị công tác tu chỉnh Hiến chương, Đạo quy, … một khi không cân nhắc kỹ lưỡng các chức năng và nhiệm vụ lẫn cơ cấu nhân sự thì sẽ đưa Thượng Hội vào thế mâu thuẩn với Pháp chánh truyền. Nhất là các giáo phẩm Hiệp thiên đài cùng tham gia hành chánh cùng Cửu trùng đài; ở vị trí này thì thực sự là ai sẽ “bảo pháp” cho việc “vừa đá banh vừa thổi còi”.

Thực sự đây là điểm yếu chung khi mà các giáo phẩm hiện tại được phép “lập luật” đều ở tuổi “cổ lai hy” và thêm nữa là chưa ai “qua” khóa về logic học nên việc xây dựng các điều khoản đều nằm trong vòng lẩn quẩn dẫn đến mâu thuẩn nội tại lẫn mâu thuẩn với luật cơ bản là Pháp chánh truyền; hệ quả tất yếu là luật được lập ra "bỗng dưng" vô hiệu ngay sau khi ban hành, thấm chí là triệt tiêu không cho phép chỉnh sửa, tu chỉnh là khác (đã phân tích trong một Hiến chương tại diễn đàn này) và còn tệ hơn nữa là lập luật song mà “quên” hay công bố hay ban hành bằng một văn bản có hiệu lực nhưng lại buộc tất cả chức sắc lẫn nhân sanh phải tuân hành.
&&&

Trả lời câu hỏi 09:

Riêng đoạn:

8 câu hỏi ở trên được đặt ra trên cơ sở Pháp chánh truyền và các giáo phẩm ở vị trí độc lập. Nay các giáo phẩm được đặt chung trong một cơ cấu tổ chức là Thượng hội. Mới đọc qua, xem xét không kỹ thì sẽ thấy ngay là mâu thuẩn Pháp chánh truyền.

TN viết: Mới đọc qua, xem xét không kỹ thì sẽ thấy ngay là mâu thuẩn Pháp chánh truyền. Vậy nó có nghĩa là khi đọc kỷ, xem xét kỹ là không mâu thuẫn.

Hiền lại viết liền đó:

Song, có lối ra nào cho cơ cấu tổ chức Hội này không phạm Pháp chánh truyền khi hội và họp?

So hai đoạn nầy của hiền thì tự nó mâu thuẩn nhau.

Bởi vì câu trên xác định là đúng với PCT thì đâu cần chi phải tìm lối ra cho phù họp với PCT.

Đấy là Tôi phân tích 02 câu viết kế nhau của hiền TN.

Riêng Tôi thấy qua phân tích và trả lời các câu hỏi của hiền TN đã chứng minh Nội Luật Thượng Hội phù hợp với PCT.

Đức Chí Tôn có dạy:

ai là người hửu tâm với nhân loại thấy cách lập pháp của Thầy mà không mừng dùm cho nhân loại.

Xét kỷ thì thấy đến ĐĐTKPĐ Thầy mới dạy cách lập quyền cho nhơn sanh (điều nầy các tôn giáo trước đây không có).
Lập quyền cho nhơn sanh thì phải có cơ chế hẳn hoi.

Ba hội lập quyền vạn linh chính là cơ chế lập quyền cho nhơn sanh đó vậy.

Kính BQT trang web.
Kính quí thành viên trang web.
Kính hiền TN.

Mở đầu Tôi có viết: Mong rằng chúng ta cùng có thêm kiến thức khi trao đổi giờ phần trao đổi về 09 câu hỏi của hiền TN đã tạm xong.

Tôi lại có thêm mong muốn là chúng ta sẽ hiểu nhau hơn hòa ái nhau hơn... ./.

NAY KÍNH.

HẾT PHẦN TRẢ LỜI 09 CÂU HỎI CỦA HIỀN TN.​


(TÔI VẪN CHỜ HIỀN TN TRẢ LỜI CÂU THỈNH Ý BÊN TRÊN.

KÍNH)
 

Trung ngôn

Active member
A- TÌM HIỂU VỀ THƯỢNG HỘI.
I- Thời gian lập thành và thứ tự trong in ấn.
1- Thời gian lập thành.
- Thượng Hội Nội Luật.
Do Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt [A] và Hộ Pháp Phạm Công Tắc cùng ký và ban hành ngày 22-01- Nhâm Thân (1932) [C].
- Luật lệ chung các Hội, Hội Nhơn Sanh Nội Luật, Hội Thánh Nội Luật.
Cả ba luật nầy do Phạm Hộ Pháp Chưởng Quản Nhị Hửu Hình Ðài Hiệp Thiên và Cửu Trùng [D], ký và ban hành ngày 16- 11- Giáp Tuất. (1934).
[Theo diễn văn ngày 08-4-Giáp Tuất “1934” của Đức Quyền Giáo Tông thì ngoài nội luật Thượng Hội ra còn có Nội Luật Hội Nhơn Sanh và Hội Thánh của các vị Chánh Phối Sư lập ra [E].
Đức Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt đăng tiên ngày 13-10- Giáp Tuất (19- 11-1934). Ngày 06-11- Giáp Tuất Đức Hộ Pháp được công cử [F] cầm luôn quyền Giáo Tông của Cửu Trùng Đài. Ngày 16-11- Giáp Tuất (22-12- 1934) Đức Hộ Pháp đã ký ban hành 03 luật kể trên.[G].
---------------------------------------------------------------------------------------------------------
Kính gửi Hiền huynh Trần Văn Chí,
Kính Huynh tỷ đệ muội (HTDM),
Xin mời Quý HTDM tham gia cùng Trung ngôn trao đổi về các vấn đề đã nêu, trong phạm vi bài viết hôm nay, chi xin trao đổi sâu hơn vấn đề của Huynh Chí – được trích dẫn nguyên văn và đánh dấu bằng ký tự để tiện theo dõi.
Thưa Huynh Chí,
1. Trao đổi nội dung tại [A]
Chúng ta cùng nhau xem lại quyền của Ngài Lê Văn Trung tại thời điểm này một chút (xem tại [A] như đã dẫn ở trên, sau đây gọi tắt là xem tại []):
Chữ “quyền” cho thấy Ngài Trung chưa chính vị ở ngôi Giáo tông. Tìm lại trong Pháp chánh truyền (PCT) ở phần nguyên văn cũng như chú giải thì không tim thấy quy định này cho phép phẩm “quyền” được tham gia công việc như đã quy định tại PCT.
Nếu không tìm thấy như đã nêu thì việc có tên trên văn bản này khó thuyết phục được 3 vị Đầu sư và càng không thể lọt qua sự “xét nét ” của 3 vị Chưởng pháp.
Cần xem lại và bổ sung thêm thẩm quyền của người ký để cho văn bản này có hiệu lực thi hành!!!

2. Trao đổi nội dung tại

Xem lại một lần và nhiều lần hơn nữa để biết rằng trong PCT không có khoản nào quy định phẩm Hộ pháp có thẩm quyền ban hành luật.
Theo PCT thì chỉ thấy Giáo tông và Đầu sư là 02 phẩm được “dâng luật”.
Cần xem lại và bổ sung thêm thẩm quyền của người ký để cho văn bản này có hiệu lực thi hành!!!

Sẽ tiếp tục trao đổi cùng Huynh.
Trung ngôn.
 
XIN TRẢ LỜI HIỀN TRUNG NGÔN.

Xin cảm ơn hiền TN đã gởi câu hỏi.

Trước khi trả lời xin phép hiền TN cho Tôi có đôi lời.

Thưa hiền TN, người trước có câu: Văn tức là người.

Trên các trang web liên quan đến Đạo Cao Đài người tham gia thiên về giáo lý là nhiều mà đặc vấn đề hay phân tích về pháp luật đạo rất ít.

Tôi đã đọc nhiều bài của hiền trên trang web nầy, qua đó Tôi nhận thấy hiền là một trong các cây bút nêu ra nhiều vấn đề về pháp và luật tôn giáo. Cũng qua đó Tôi nhận thấy được mối ưu tư dẫn đến bức xúc của hiền với tiền đồ của đạo.

Dù rằng chúng ta chưa từng biết mặt nhau để tay bắt mặt mừng nhưng tự trong thâm tâm tôi thấy đã gặp một tình thân và quí trọng với hiền (dĩ nhiên trên trang web cũng còn rất nhiều người rất đáng mến và rất đáng nễ phục khác mà Tôi không sao kể hết nơi đây).

PHẦN TRẢ LỜI.

Khai ĐĐTKPĐ thầy cho tự do quyền.

Cho nên PCT chú giải đã được Hội Thánh ĐĐTKPĐ để lời nhìn nhận từ năm 1931. Nhưng sau nầy chúng tôi nhận thấy có mấy diện:

- Một số nơi không nhìn PCT chú giải. Diện nầy công bố rõ nên cũng có cách thảo luận.

- Một số nơi chỉ nhìn có một phần, mà cũng không chịu công bố rõ nhìn phần nào và không nhìn phần nào. Diện nầy chỉ có cách kiếu chào vì mình không biết căn cứ vào đâu mà thảo luận.

- Nhìn PCT chú giải có giá trị pháp lý đầy đủ. Diện nầy xin được có lời kính phục.

Xin hoan nghinh là hiền TN nhìn nhận đầy đủ PCT chú giải. (TÔI MUỐN GHI BIỂU TƯỢNG VUI CHỔ NẦY MÀ KHÔNG BIẾT LÀM SAO GHI... hi hi đừng cười Tôi dốt nhé)...

Đây là cơ sở để chúng ta cùng đi đến tận cùng mọi vấn đề.​

Xin phép hiền TN cho tôi chia câu hỏi ra để trả lời cho minh bạch.

CÂU HỎI 01:

Hiền TN viết:

Chữ “quyền” cho thấy Ngài Trung chưa chính vị ở ngôi Giáo tông. Tìm lại trong Pháp chánh truyền (PCT) ở phần nguyên văn cũng như chú giải thì không tim thấy quy định này cho phép phẩm “quyền” được tham gia công việc như đã quy định tại PCT.

Nếu không tìm thấy như đã nêu thì việc có tên trên văn bản này khó thuyết phục được 3 vị Đầu sư và càng không thể lọt qua sự “xét nét ” của 3 vị Chưởng pháp.

Cần xem lại và bổ sung thêm thẩm quyền của người ký để cho văn bản này có hiệu lực thi hành!!!

TRẢ LỜI.

1- “Quyền” và chánh vị.

PCT nguyên văn lẫn chú giải đều không có chữ “quyền” theo nghĩa là chưa chánh vị.

Nhưng PCT là luật mở (ĐỂ PHỤNG SỰ), nên trong ĐĐTKPĐ Đức Lý Giáo Tông vẫn phong nhiều vị cầm quyền mà chưa chánh vị. Đó là pháp lý của chữ “quyền”.

Một vị được phong “Quyền” (chưa chánh vị) trong hành chánh tôn giáo vẫn có đầy đủ quyền như chánh vị.

Chánh vị có quyền thế nào thì vị được phong “quyền” có quyền như thế ấy. Cách phân quyền trong ĐĐTKPĐ là như thế.

Hiền TN có thể kiểm tra lại.

Phần còn lại xin phép trả lời chung với câu kế đây.

CÂU HỎI 02 & 03.

2- Nếu không tìm thấy như đã nêu thì việc có tên trên văn bản này khó thuyết phục được 3 vị Đầu sư và càng không thể lọt qua sự “xét nét ” của 3 vị Chưởng pháp.

Cần xem lại và bổ sung thêm thẩm quyền của người ký để cho văn bản này có hiệu lực thi hành!!!

3- Xem lại một lần và nhiều lần hơn nữa để biết rằng trong PCT không có khoản nào quy định phẩm Hộ pháp có thẩm quyền ban hành luật.

Theo PCT thì chỉ thấy Giáo tông và Đầu sư là 02 phẩm được “dâng luật”.

Cần xem lại và bổ sung thêm thẩm quyền của người ký để cho văn bản này có hiệu lực thi hành!!!

TRẢ LỜI.
“Chung cho câu 02 và 03”.​

Cảm ơn hiền TN đã nhắc là phải xem lại PCT.

Tôi xin trích đoạn trong PCT Hiệp Thiên Đài chú giải để trả lời:

PHÁP CHÁNH TRUYỀN:
"Thầy khuyên các con lấy tánh vô tư mà hành đạo, Thầy cho các con biết trước rằng: Hễ trọng quyền thì ắt có trọng phạt".

CHÚ GIẢI:
Vì lời khuyên của Thầy mà Đức Lý Giáo Tông xin buộc cả Chức Sắc Hiệp Thiên Đài phải Minh Thệ giữa Hội Thánh rằng: Lấy dạ vô tư mà hành Đạo, lại muốn tỏ ra rằng: Chức Sắc Hiệp Thiên Đài thật trọng quyền, Ngài mới ban dây sắc lịnh, buộc cả Tín Đồ và cả Chức Sắc Thiên Phong, hễ mỗi Chức Sắc Hiệp Thiên Đài mang dây sắc lịnh vào mình mà hành chánh nơi nào, thì phải tuân mạng, dầu lỗi quấy cũng phải chìu theo, chỉ để cho Hội Thánh có quyền định tội, lại buộc cả Chức Sắc nào đã thọ quyền của Hiệp Thiên Đài cũng phải minh thệ, y như vậy mới đặng hành chánh.

&&&​

Vậy phẩm nào được ban dây sắc lịnh?

Xin thưa rằng phần đạo phục chức sắc Hiệp Thiên Đài cho thấy có 15 phẩm được ban dây sắc lịnh.
15 phẩm đó là:
Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh và Thập Nhị Thời Quân.

Nội Luật Thượng Hội có Đức Hộ Pháp ký trong đó.

Ngài được ban dây sắc lịnh là đã đủ pháp lý.

PCT chú giải cho quyền Hội Thánh ĐĐTKPĐ có quyền định xem đúng hay sai. Hội Thánh đã chấp nhận là đúng nên đã thi hành từ thử.

Luật 03 HLQVL cho phép một tín đồ thấy cần thì cũng có quyền dâng ý kiến sửa đổi nhưng từ khi lập ĐĐTKPĐ (1926) đến khi Hội Thánh giải thể (1979) không thấy ai có ý kiến sửa đổi.

Như thế CÁC VẤN ĐỀ HIỀN NÊU RA và câu của hiền viết:

Cần xem lại và bổ sung thêm thẩm quyền của người ký để cho văn bản này có hiệu lực thi hành!!!

Là do hiền chưa hiểu được qui định về dây sắc lịnh mà ra.

Nay kính.

&&&&&​

TÁI BÚT:

À mà hiền TN chưa trả lời câu thỉnh ý của Tôi đấy nhé.

Kính.
 

Facebook Comment

Top