Đạo luật Mậu Dần - 4 CQ Hành chánh đạo

BÀI MỞ RỘNG (tt).​

4- Trở pháp thể hiện: Nội luật Thượng Hội.

Đại-Từ-Phụ lại trở pháp, giao quyền ấy cho Cửu-Trùng-Đài như thế nào?

Xem trong nội Luật Thượng Hội:

4.1- Điều thứ nhất:

Ðiều Thứ Nhất: Thượng hội thì có.
1- Giáo Tông …. Hội Trưởng.
2- Hộ Pháp .. Phó Hội Trưởng.
3- Thượng Phẩm .. Nghị viên.
4- Thượng Sanh …. Nghị viên.
5- Ba vị Chưởng Pháp. .. Nghị viên.
6- Ba vị Ðầu Sư Nam Phái. … Nghị viên.
7- Ðầu Sư Nữ Phái. ….. Nghị viên.

Trong Thượng Hội có 03 phẩm của Hiệp Thiên Đài là: Hộ Pháp, Thượng Phẩm, Thượng Sanh.

Mà PCT và Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài không có qui định con đường công cử chức sắc Hiệp Thiên Đài lên 03 phẩm nầy.

Như vậy trên thực tế vào hội chỉ còn có 08 vị bên Cửu Trùng Đài.

Bát Tiên có nhiệm vụ trấn giử Bát Quái Đài. Trong Bát Tiên có 01 vị nữ: Hà Tiên Cô.

08 bức tranh ở Bao Lơn Đài có một vị nữ: Tây Thi.

(Riêng bức tranh Vua Vũ trị thủy không vẽ rõ Nam Nữ nhưng thiễn nghĩ thời đó chắc là Phụ Nữ không tham gia vào việc công nặng nhọc như thế).

So với 08 vị trong Cửu Trùng Đài vào dự Thượng Hội (trên thực tế) có 01 vị Nữ: Nữ Đầu Sư...

Ba thể pháp nầy có thể kiên kết lại để liên hệ và đào sâu hơn một chút có gượng gạo gọi là tìm hiểu đến bí pháp chắc các vị cũng không nỡ trách là lố.

08 vị bên Cửu Trùng Đài vào Hội Thượng Hội xong rồi thì Giáo Tông vào Đại Điện có một mình và cũng có một mình trở ra và công bố những điều Ngài quyết định.

Như vậy sự nghiệp của ĐĐTKPĐ có diện mạo hay giá trị thế nào trước nhân loại là do Cửu Trùng Đài quyết định.

+ Giá trị của Bát Quái Đài do Cửu Trùng Đài thể hiện trước nhân loại mà có.
Nói BQĐ do Trời làm chủ mà nhân sự hành đạo không thể hiện phẩm chất thiên phong thế thiên hành hóa; thì có đem yếu tố thần bí ra biện bạch nó cũng chỉ gạt được người mê tín chớ chánh tín họ chẳng tin. Người hiểu biết họ còn nói rõ
Đức Hộ Pháp dạy: Đó là những người lăng mạ Thánh Thể Đức Chí Tôn.

Thời đại ngày nay không thể cậy vào yếu tố thần linh hay huyền bí mà tạo nên sự phi thường hay để che lấp yếu kém. Phi thường phải theo qui luật là cùng sống và vươn lên rồi qua công nghiệp tạo được mà nhân loại nhìn nhận là phi thường. Mà cái giá trị chi do nhân loại tự nguyện nhìn nhận được thử thách qua thời gian thì Chí Tôn nhìn nhận.
Đó là nguyên tắc dâng công đổi vị thời Tam Kỳ Phổ Độ.

Bằng chứng đâu mà nói thế?

Xin thưa xem lại các vị được tôn vinh là Giáo chủ của các tôn giáo thời Nhị Kỳ ta thấy ngay từ lúc mới sinh các vị đã mang yếu tố thần linh.
Phật mới sanh ra đi bảy bước.
Lão Tử ở trong thai bào mấy chục năm mới nhảy trong nách ra.
Đức Chúa được thụ thai bởi Đức Mẹ Đồng Trinh Maria...

Cho nên giáo chủ của ĐĐTKPĐ sanh ra rất bình thường, là con của dòng thứ, ăn học, đi làm việc kiếm tiền, xây dựng gia đình có con cái đều bình thường như bao nhiêu người khác.
Từ cái bình thường đó nhìn vào người đời, nhìn vào xã hội rồi không ngừng suy nghĩ về ý nghĩa đời người về cá nhân và xã ước về thế giới vô hình....rồi gặp được duyên lành (là gặp đạo) và quả quyết phế bỏ tất cả công danh phú quí giả tạo, phù du để theo đuổi lý tưởng mà mình ngộ được cho đến hơi thở cuối cùng.

Ngài phi thường ở chổ: Khi đã ngộ đạo thì quyết chí làm theo (cẩn nhi hành chi).
Người bình thường thì ngộ đạo rồi để đó hay lúc làm lúc nghỉ (nhược tồn nhược vong).

+ Cái giá trị của việc xây dựng cá nhân và tôn giáo, xã hội của ĐĐTKPĐ được thể hiện ở đâu?

Thiễn nghĩ đó là 08 bức tranh ở Bao Lơn Đài trước Đền Thánh. 08 bức tranh chia làm 02 chương trình và 08 công thức.

02 chương trình: xây dựng cá nhân (bên ông Thiện) và xây dựng xã hội (bên ông Ác).
08 công thức chia đều cho 02 chương trình.

Xây dựng cá nhân có 04 công thức:​

+ Lý Mật chăn trâu ham học nên đem sách cột trên sừng trâu để rãnh thì lấy ra học. Cái tên của Ông (lý kín, sự mật) và công việc thể hiện công thức: Học vấn và cần mẫn.

+ Hứa Do và Sào Phủ: công thức thanh liêm.

+ Bá Nha và Tử kỳ: từ tri âm thành tri kỷ và cách cư xữ của Bá Nha thể hiện cho Tín Nghĩa.

+ Khương Thượng và Võ Kiết nói lên rằng từ già đến trẻ, từ Thầy đến trò, từ trí thức đến lao động chân tay đều phải có chữ nhẫn và đi đến Chí nhẫn.

Xây dựng xã hội có 04 công thức:​

+ Vua Vũ trị thủy: xây dựng hạ tầng phải làm trước.

+ Vua Nghiêu tìm ông Thuấn: Chương trình canh nông để tạo cuộc sống ấm no.

+ Thợ rèn và đục bản gỗ: Có câu đối:
Hổn độn sơ khai tòng tiên giác.
Văn minh thành lập khải hậu sinh.​
Thể hiện chương trình giáo dục và khoa học kỷ thuật.

+ Phạm Lãi và Tây Thi.
Hai người ngồi trên hai đầu của một chiếc thuyền tượng cho quân bình âm dương trong mọi lãnh vực. Trong xã hội nó là đầu ra và đầu vào của nền kinh tế, của tài chánh trong một công ty... thể hiện cho kinh tế và thương mại: Kinh Thương.

Đi sâu vào thì còn phải tính đến việc tại sao 08 bức tranh bố trí tại đó (tiếp giáp với Bát Quái Đài vô vi hay hướng về Đại Đồng Xã)?
Đối xứng với BQĐ thế nào?
Tại sao nó lại nhô ra?
Bên dưới của 08 bức tranh có gì cố định, có gì di động (luân chuyển mà vẫn cố định), bên trên có gì....

02 chương trình và 08 công thức của Đức Chí Tôn dạy được thể hiện qua kiến trúc (thể pháp).

Trong suốt chu kỳ của ĐĐTKPĐ không ai có quyền thay đổi. Còn bí pháp thực thi thì thay đổi không ngừng tùy vào tài nguyên và môi trường sống của Đạo và xã hội (nhân loại).

Đây là điều mà chỉ có Tam Kỳ Phổ Độ mới có. Nó ứng khớp với nguyên lý Tam Kỳ: Đạo đi từ hữu hình trở lại vô vi.

Nên khi khai Đạo Đức Chí Tôn dạy mở thể pháp trước. Thể pháp là cố định thì ai phá nổi thể pháp của Thầy?

Thể pháp không phải đơn giản là công trình kiến trúc cho nên nếu cường quyền có chiếm Đền Thánh, có phá hủy Đền Thánh đi nữa thể pháp vẫn tồn tại trong lòng người đạo.

Qua 02 sự trình bày ngắn gọn trên đây thiết tưởng phần nào thể hiện được ý nghĩa của 08 nhân sự Cửu Trùng Đài trong Thượng Hội và Bát Tiên trấn Bát Quái Đài qua thể pháp.

4.2- Ðiều Thứ Mười Bốn:

Sau khi hội Thượng Hội thì Giáo Tông và Hộ Pháp phải đình Hội lại 15 phút đồng hồ đặng hai người vào Ðại Ðiện mật nghị rồi phải trở ra cho Thượng Hội hay những điều của hai đàng nhứt tâm quyết định.
&&&​

4.3- Một mình Giáo Tông quyết về chánh trị đạo.

Hộ Pháp đã về thiêng liêng vị thì Giáo Tông vào đại điện có một mình. Giáo Tông vào đó tự quyết xong rồi trở ra công bố quyết định của Ngài (cũng có một mình).

Về hữu hình Giáo Tông trọn quyền quyết định chánh trị đạo.​

Giáo Tông đã nắm quyền hành chánh đạo (theo PCT), giờ trọn quyền quyết định chính trị đạo.

Đó chính là thể hiện câu:
Đại-Từ-Phụ lại trở pháp, giao quyền ấy cho Cửu-Trùng-Đài.

Quyền ấy là quyền gì?

Đó là quyền CẦM SỐ MẠNG NHƠN SANH.

CẦM SỐ MẠNG NHƠN SANH khi đã lập thành chánh giáo nặng về thực thi (hành chánh) đã được lập thành.

LẬP THÀNH CHÁNH GIÁO (thiên về chánh trị đạo) là rất khó nên phải cầm quyền giáo chủ mới lập được.

Không có quyền Giáo Chủ thì lấy chi để bảo đảm là những điều khi lập thành chánh giáo sẽ bị đời sau sửa đổi.

Thí dụ như có một vị Giáo Tông nào đó ra một Đạo Luật nghịch với sự sinh hoạt của Nhơn Sanh (theo ý trong PC chú giải) thì nhơn sanh làm sao bảo vệ mình?

Phải chờ các vị Chưởng Pháp.... can thiệp theo hành chánh....

Nhưng còn một lẽ trực tiếp: Nhơn sanh sẽ căn cứ vào lời dạy của Giáo Chủ mà thẳng tay bác bỏ.

...Nhơn sanh thấy thất đạo thì xô xuống... (theo lời Đức Hộ Pháp- 1937) thì ai dám cản họ? Ai dám cản đầu xe lửa?

Chánh giáo của Thầy được bảo đảm trong thất ức niên chính là nhờ có Giáo Chủ Hữu Hình đứng ra làm mẫu mực.
Những người muốn biến cải chánh giáo của Thầy hoàn toàn bế tắc trước trận địa của Giáo Chủ Hữu Hình bài bố.

Chức sắc A chống chức sắc B hay C thì có thắng có thua.

Nhưng chưa có một ai chống lại nhơn sanh mà khỏi thua. Mà Nhơn Sanh thì họ tin vào Đức Hộ Pháp, tin vào Giáo Chủ Hộ Pháp Phạm Công Tắc.

Nói ví dụ cho dễ hiểu thì:

Đức Chí Tôn ví như ông chủ muốn lập nhà máy nên trù tính sẽ cung ứng sản phẩm chi, rồi định qui mô, chương trình, ra bản vẽ….(CẦM CHÁNH GIÁO).

Hiệp Thiên Đài được giao cho nhiệm vụ coi bản vẽ…. mà xây dựng. Khi thực hành nhiệm vụ thì được giao đủ quyền chọn nhân công, mua vật liệu… cho đến khi hoàn thành. (LẬP THÀNH CHÁNH GIÁO).

Cửu Trùng Đài có trách nhiệm vận hành nhà máy để cung ứng sản phẩm cho xã hội (nhơn sanh). Xã hội tốt xấu, no đói chi chi cũng do nơi Cửu Trùng Đài. Ấy là CẦM SỐ MẠNG NHƠN SANH đó vậy.

Theo thiễn ý hiểu vậy là phù hợp với câu: khi Ngọc-Hư định cho Hiệp-Thiên-Đài cầm số-mạng nhơn-sanh, lập thành chánh-giáo, thì Đại-Từ-Phụ lại trở pháp, giao quyền ấy cho Cửu-Trùng-Đài.
&&&​

Nhân sự Toà Thánh Tây Ninh vẫn truyền miệng câu nói của Đức Hộ Pháp: Khi xây dựng xong Toà Thánh Bần Đạo sẽ rút dàn trò ra.

Câu nói rất đơn giản và thực tế. Đơn giản vì ai cũng hiểu, thực tế vì chẳng có ai xây xong căn nhà lại để dàn trò ngỗn ngang chình ình ra đó.

Nhưng ngẫm nghĩ thì nó rất đúng với việc Đức Chí Tôn giao cho Ngài được toàn quyền (giáo chủ hữu hình) để LẬP THÀNH CHÁNH GIÁO. Lập xong thì cả êkip rút lui giao lại cho Cửu Trùng Đài.

***: Kết luận nhỏ.

+ Văn bút qua 03 giai đoạn.
- Đức Chí Tôn không giao chánh giáo cho tay phàm.
- Ngọc-Hư Cung định cho Hiệp-Thiên-Đài cầm số-mạng nhơn-sanh, lập thành chánh-giáo,
- Đại-Từ-Phụ lại trở pháp, giao quyền ấy cho Cửu-Trùng-Đài.
+ Đối chiếu với Châu Tri 21.
+ Đối chiếu với Nội luật Thượng Hội.
Thì ta thấy tất cả đều đúng với thiên thơ.

&&&​

(CÒN TIẾP SỐ 5: ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG XÁC NHẬN: ĐÚNG._​
 
BÀI MỞ RỘNG (tt)​


5- ĐỨC LÝ GIÁO TÔNG XÁC NHẬN: ĐÚNG.

Đức Lý Giáo Tông xác nhận việc Đức Hộ Pháp cầm quyền Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên Cửu Trùng là đúng với thiên thơ.

5.1- Nguyên văn Thánh Ngôn:

Ngày 18-10- Ất Hợi (13-11-1935) Đức Lý Giáo Tông có dạy:
…. Hộ-Pháp, hèn lâu Lão không đến chuyện vãng cùng nhau đặng, một là vì không cơ-bút, hai là vì Thiên-thơ biến-chuyển, Lão có đến cũng chẳng ích gì.
…. Lão để lời cám ơn Hộ-Pháp đã chịu lắm phen nhọc-nhằn khổ-não làm cho Đạo ngày nay đặng ra thiệt tướng. Lão chỉnh thẹn có một điều là Lão chưa giúp hay vào đó. Lão đa tạ, đa tạ.
…. May thay! Thiên-thơ do một mặt chẳng chi dời đổi trở ngăn, nên may ra nữa, từ đây Lão có phương cầm quyền trị thế.
(Hộ-Pháp bạch: Thiên-thơ đã đổi, đệ-tử xin giao quyền hành của Quyền-Giáo-Tông lại cho Ngài đặng Ngài đủ oai cầm Thiên-thơ vững chặt).
- Cuời, Lão e cho, một là Lão đã cho, không lẽ lấy lại, hai là hành-pháp thì dễ, hành-hình thì khó, không có nửa quyền trị thế của Lão nơi tay thì Hộ-Pháp có thế nào điều hành Hội-Thánh cho đặng. Ấy vậy cứ để y.

&&&​

5.2- Đoạn Thánh Ngôn trên có mấy ý liên quan:

a- Xác định Thiên-thơ biến-chuyển,

b- Xác định Đức Hộ Pháp làm đúng: Lão để lời cám ơn Hộ-Pháp đã chịu lắm phen nhọc-nhằn khổ-não làm cho Đạo ngày nay đặng ra thiệt tướng.

c- Xác định từ đây Lý Giáo Tông có phương nắm quyền trị thế: May thay! Thiên-thơ do một mặt chẳng chi dời đổi trở ngăn, nên may ra nữa, từ đây Lão có phương cầm quyền trị thế.

d- Xác định tiếp tục giao quyền Giáo Tông phần xác cho Đức Hộ Pháp: không có nửa quyền trị thế của Lão nơi tay thì Hộ-Pháp có thế nào điều hành Hội-Thánh cho đặng. Ấy vậy cứ để y

&&&​

5.3- Tìm hiểu sơ lượt cách lập pháp của Thầy.
Thầy có dạy ngày 15-4-1928 (Mậu Thìn):
…ai là đạo đức, đọc đến cách lập pháp của Thầy mà chẳng mừng dùm cho nhân loại
(TNHT Q2 trang 51 bản in 1963).​
Vậy cách lập pháp của Thầy như thế nào?

Có 02 điều cần tìm hiểu: Cách tiến hành khi lập pháp và nội dung trong văn bản lập pháp. [Nói đơn giản là cách lập văn bản và nội dung văn bản]

Đạo pháp vô biên. Chúng tôi xin không đi vào nội dung (là phần vô biên) chỉ trình ra vài điều cụ thể.

Do vậy chúng tôi chỉ đề cập đến cách tiến hành khi lập pháp.

CÁCH LẬP PHÁP CỦA THẦY:​

Tìm hiểu từ Đạo Sử và Thánh Ngôn ta thấy:

a- Liên quan đến nguồn máy hành chánh.
- Khai ĐĐTKPĐ Thầy phong phẩm tước cho môn đệ (theo PCT) trước khi có PCT.
- Thầy dạy thi hành một số điều trong Tân Luật trước rồi mới dạy lập Tân Luật.
Qua hai thực tế trên chúng ta thấy rằng buổi khởi đầu có những nhu cầu cấp bách mà Thầy dạy cho môn sinh thi hành việc cần yếu trước rồi sau đó mới lập thành cho đầy đủ và hoàn chỉnh.

b.- Liên quan đến Chánh Trị Đạo.
Trước khi Thầy dạy về 03 HLQVL Đức Lý Đại Tiên đã dạy cho Hội Thánh thực hành về 03 Hội: Hội Nhơn Sanh, Hội Thánh, Thượng Hội qua 06 Sáu Đạo Nghị Định do Đức Lý Giáo Tông lập năm 1930.
Như vậy cách thức Thầy lập ra Chánh Trị Đạo cũng giống như khi Thầy lập nguồn máy hành chánh tôn giáo.

c- Nhận xét nhỏ:
Qua hai phần ghi nhận từ thực tế trên đây ta nhận Thấy.

+ Thầy đã nắm chương trình chung trước rồi mới lập một số bộ phận, sau đó Thầy mới dạy cho ráp các bộ phận đó lại thành tổng thể theo ý Thầy định cho từng chương trình và cho toàn bộ chương trình.

+ Từng chương trình là Nguồn Máy Hành Chánh Tôn Giáo và Chánh Trị Đạo, Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, Thể pháp và Bí pháp.

+ Toàn bộ chương trình là cả nền chánh giáo (còn gọi là chơn giáo hay Pháp Chơn Truyền) của Thầy.

+ Hội Thánh ĐĐTKPĐ trọn tin nơi Thầy nên Thầy dạy sao thì cứ y vậy mà làm.

Chúng tôi đã căn cứ vào sự chỉ dẫn của Châu Tri 21 để tìm trong thiên thơ những đoạn cần thiết để chứng minh việc Đức Hộ Pháp cầm quyền Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng nếu có gì sơ sót hay biện luận không đúng xin quí vị chỉ ra để chúng tôi học hỏi thêm.

@@@@​

(CÒN TIẾP. PHẦN BA.
“Công nghiệp thực tế hay
Sở hành của Đức Hộ Pháp khi cầm quyền Chí Tôn tại thế”.)​
 

LỜI CHÚC TẾT.​

Năm mới Văn Chí xin kính chúc Quí Thành Viên và Ban Quản Trị trang web caodaivn.com an khang thịnh vượng và thực hiện được nhiều công quả.

Cầu xin ơn trên ban bố phước lành cho nhân loại dụng lẽ công bằng, bác ái đối đãi nhau trong cuộc sống.

Nay kính.​
 
XIN PHÉP ĐỔI TỰA BÀI.​

Khi viết bài nầy Văn Chí chỉ hiểu rằng đây là BÀI MỞ RỘNG để làm rõ việc Đức Hộ Pháp cầm quyền Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng là đúng với chánh giáo của Thầy.

Đến khi viết phần công nghiệp thực tế của Đức Hộ Pháp Văn Chí thấm thía câu (ở Trí Giác Cung): ĐẠO PHÁP VÔ BIÊN.

Với Phật Pháp: Đạo Pháp Trường Lưu.

Với Tiên Giáo: Đạo Pháp Bao La.

Vô biên thì VÔ BIÊN THẾ GIỚI ĐỊA CỬU THIÊN TRƯỜNG (kệ U MINH CHUNG câu 14).

Đến Trí Huệ Cung thì:
Trí Định Thiên Lương Qui Nhứt Bổn.
Huệ Khai Đạo Pháp Độ Quần Sanh.​

Đạo pháp từ cõi vô biên được Thầy và Các Đấng Thiêng Liêng trao cho ĐĐTKPĐ để truyền bá đến nhân loại thì nó là hiện hữu.

Đạo pháp hiện hữu xuất phát từ Đạo Pháp vô biên. (hữu sanh ư vô)

Nhưng khi đạo pháp đã hiện hữu thì (hữu vô tương sanh)

Cái hiện hữu vừa là giới hạn vừa là vô giới hạn.

Cái vô biên thì vô giới hạn mà cũng là giới hạn.

Giới hạn trong một đời người (một kiếp sinh) nhưng lại là vô giới hạn trong vô lượng kiếp để tấn hóa theo Luật Luân Hồi, Nhân Quả.

Vô giới hạn với nhân quần xã hội nhưng lại là giới hạn theo tài nguyên và môi trường nhân loại sống qua từng thời kỳ.
Dù giới hạn hay vô giới hạn thì Đạo Pháp vẫn có chủ của nó: TRỜI. (1).

ĐẠO PHÁP HIỆN HỮU là phần mà Đức Chí Tôn và các Đấng Thiêng Liêng ban bố xuống cho nhân loại.

Hiệp Thiên Đài (Đức Hộ Pháp) là người vâng lệnh Thầy chuyển đạo pháp đến tay nhân loại (LẬP THÀNH CHÁNH GIÁO)

Do vậy lấy tựa là: ĐẠO PHÁP HIỆN HỮU sẽ thích hợp hơn.

Văn Chí thành thật chịu lỗi là chưa độ chín khi đề tựa trước đây.

Giờ xin nhận lỗi và xin đổi tựa bài.

Nay kính

@@@@@​
(1):
Trời nắm chủ quyền từng con người qua từng kiếp sinh hay khi trãi bước trong vô lượng kiếp.

Trời nắm chủ quyền cả càn khôn thế giới từ khi tạo lập đến lúc con người hiện sinh và trãi qua các thời kỳ từ ăn lông ở lổ đến buổi tạo lập các nền văn minh.
- Thành lập nền Văn Minh Nông Nghiệp.
- Thành lập nền Văn Minh Công Nghiệp.
- Thành lập nền Văn Minh Điện và Điện Tử.
- Thành lập nền Văn Minh Cao Đài Giáo.

Vậy phần của con người (nhân loại) thế nào?

Con người được Trời tạo hóa:
Đại Từ Phụ từ bi tạo hóa,
Tượng mảnh thân giống cả Càn Khôn.
Vẹn toàn đủ xác đủ hồn,
Xây cơ chuyển thế bảo tồn vạn linh.
(Kinh Tắm Thánh câu 5-8)​

Nhân loại đặng phép mượn quyền pháp của Thầy và được nắm chủ quyền trong phần tạo hóa giao cho.

Dìu đời với sức không kham,
Mượn quyền thuyết pháp đặng làm cơ quan.
(Kinh Thuyết Pháp- câu 3-4)
Con người nắm vững chủ quyền,
Thay Trời tạo thế giử giềng nhơn luân.
(Kinh Hôn Phối- Câu 03-04).​

Dù ở vào diện mượn hay được giao chủ quyền thì cũng do chính mình quyết định:
Luật nhơn quả để răn Thánh đức,
Cửa Luân hồi nhắc bực cao siêu.
Dù chăng phải mực thiên điều,
Cũng quyền tự chủ dắt dìu thiên lương.
(Kinh Giải Oan câu 5-8).​

&&&
 

ĐẠO PHÁP HIỆN HỮU (tt)​

PHẦN BA.
“Công nghiệp thực tế hay
Sở hành của Đức Hộ Pháp khi cầm quyền Chí Tôn tại thế”.​

Xin phép kể một vài công nghiệp điển hình để phục vụ cho bài nầy.

1- Xây dựng Đền Thánh.
Các giai đoạn xây dụng Đến Thánh tạm từ năm 1927 và những lần khởi công sau đó của quí vị tiền bối khai đạo xin phép miễn nêu ra vì không phải là chủ ý của bài nầy.

Đây chỉ nói ngay giai đoạn Đức Hộ Pháp cầm quyền Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng bắt tay vào việc xây dựng Đền Thánh.

Ngày 09-4-Ất Hợi 1935 Hội Thánh mở phiên họp bàn việc tu bổ Hội Thánh.
Hội Thánh bố cáo trước một năm để nhơn sanh chuẩn bị (châu tri số 06 ngày 08-5-Ất Hợi “12-7-1935”) .

Đầu năm 1936 quyết định tiến hành xây dựng Đền Thánh.

Kinh tế, xã hội năm 1936 là cực kỳ khó khăn. Khủng hoảng kinh tế thế giới đã nổ ra và đẩy thế giới vào Đệ nhị thế chiến 1939-1945.

Trong tủ của Hội Thánh chỉ có 1$46….(Lời Thuyết Đạo Đức Hộ Pháp ngày 08-4-Nhâm Thìn “1952”)

Ngày 01-11-Bính Tý 1946 (14-12-1936) khởi công xây dựng.

Các sử liệu đều nhìn nhận rằng: Đền Thánh không có họa đồ thiết kế hay bản vẽ trước.
Hằng đêm Đức Hộ Pháp được Đức Lý Giáo Tông chỉ dẫn.

Cứ mổi sáng Đức Hộ Pháp chỉ dẫn cho công quả làm công việc, làm xong phần đó là nghĩ.
Có xin làm thêm Đức Hộ Pháp trả lời: Qua được dạy có bấy nhiêu.

Người làm công quả phát nguyện chay lạc 100% và thủ trinh trong suốt thời gian xây dựng.

Những người có tham gia công quả đều cảm nhận một bầu khí linh thiêng, hào hứng, hăng sai bao trùm khiến mọi người quên bẳng đi mọi thứ khó khăn trên đời để dồn hết sự thành khẩn và tâm trí vào công việc.

Đội ngũ thi công không có chuyên môn cao, mà chỉ toàn là công quả, Đức Hộ Pháp quan sát năng lực rồi giao công việc…

Nếu cần hướng dẫn chi tiết Ngài lấy cây làm bút, lấy đất làm giấy vẽ kiểu vở rồi công quả coi đó mà làm.
Cứ thế Đền Thánh xong dần từng bước, từng bước.

Những người mới chạy về Thánh Địa còn nghèo khó không có tiền của, hằng ngày đi làm thuê kiếm sống tranh thủ giờ nghĩ trưa vào rừng bức rau chi ăn được đem rữa sạch rồi khi về đem hiến cho Lương Viện.

Cường quyền đâu để yên cho Đức Hộ Pháp hoàn thành Đền Thánh nên năm 1941 thực dân Pháp bắt Đức Hộ Pháp và một số chức sắc khác đày di Madagascar (Phi Châu). Công việc xây dựng Đền Thánh hẳn nhiên phải đình lại.

Năm 1946 tình hình biến chuyển Pháp phải đưa đoàn tù nhân biệt xứ từ Madagascar về lại Toà Thánh.

Con hạc tù đày trở lại quê xưa bồi hồi không nhớ tổ nhưng vẫn nhớ công việc được Đức Chí Tôn giao phó: Ghánh cả hai ghánh Đời và Đạo.

Hai công việc lớn cùng tiến hành song song là:
- Lo cứu vớt con cái Đức Chí Tôn trong lằn tên mủi đạn, trong khói lửa chiến tranh kinh hoàng và khốc liêt
- Lo xây dựng lại cơ ngơi tôn giáo: Đền Thánh và nguồn máy hành chánh ĐĐTKPĐ.

Đồng bào và người đạo bị ngọn lửa chiến tranh nên tìm về Thánh Địa để an cư và làm công quả.

Một miếng khi đói bằng một gói khi no. Người đạo nghèo Hội Thánh cũng nghèo nên Hội Thánh kêu gọi người công quả làm buổi tối (lấp hầm hố do quân đội Nhựt và Pháp đào ở Đông Lang, Tây Lang, Đại Đồng Xã...) chừng 02 hay 03 giờ đồng hồ (cơm nước tự túc) Hội Thánh tính một này công quả.

Giai đoạn nầy Đạo rất nghèo lấy cơm cháy nấu với nước muối làm nước tương. Lấy chuối cây xắc mỏng nấu làm canh...

Người làm công quả nặng như vào rừng lấy cây, đẽo rìu, hay cưa xẽ…mới được một miếng cơm cháy cở 3 hay 4 ngón tay với một ít muối cục hay ăn cháo buổi sáng.

Nồi cháo để trên cao (khuất tầm mắt) tới phiên ai thì cứ đến lấy cái vá mà múc một vá cho vào tô rồi tới người khác.
Vì sao phải để nồi cháo trên cao?

Bởi vì Hội Thánh không đủ gạo nên nấu lỏng, để bên dưới mấy vị phàm ăn lựa phần cái múc trước người sau chỉ còn nước.

Người hỉ hiến vật thực cho công quả dùng như rau, củ, gạo… Hội Thánh qui ra tiền rồi ghi vào miếng giấy chừng 3cm x 5cm.

Mãi sau Hội Thánh mới kêu gọi đem giấy đó ra đổi lấy giấy ban khen làm kỷ niệm. Có người góp lại đem đổi có người không.

Ba Mẹ Tôi còn lưu lại một số tờ giấy nhỏ có ghi đồ hiến giá mấy xu, mấy cắc ấy.

Tôi để trong tủ mà kẻ gian vào nhà cạy tủ lấy mất, bây giờ nhớ tới việc để mất di vật của cha mẹ, mất sử liệu tôn giáo quí giá như thế lòng tôi còn ray rứt...nước mắt rơi trên bàn phím lúc nào không hay. Tôi nhớ Đấng sinh thành đã gieo nhân duyên cho Tôi được về sống trong Thánh Địa được hưởng ân sủng của Đạo từ khi còn thơ bé chưa biết gì để anh em chúng tôi thành người có học vấn, hấp thụ văn hóa Cao Đài và có Đạo Cao Đài.

Từ đó Tôi hiểu rằng hầu hết người Đạo Cao Đài về an cư lạc nghiệp ở Châu Thành Thánh Địa đều kính trọng Đức Hộ Pháp. Không có bàn tay, khối óc, lòng thương yêu vô bờ bến của Đức Ngài thì cuộc sống của những người vì ngọn lửa chiến tranh, bỏ cả tài sản nơi chôn nhao cắt rốn chạy về Thánh Địa với hai bàn tay trắng, bắt đầu đời sống mới từ cảnh khốn khó, cơ hàn sẽ sống ra sao?
Trẻ thơ từ những gia đình nghèo khó có được cắp sách đến trường hay không?
Chay lạc, vị tha, nghĩa hiệp và cống hiến là thể pháp tôn giáo. Thể pháp đó đã thâm nhập vào xã hội để xây dựng một nếp sống văn hoá mang bản sắc đặc trưng của ĐĐTKPĐ cho cư dân ở Châu Thành Thánh Địa là điều đã rõ ràng.

Nếu không có sự quan tâm và chỉ dẫn của Đức Hộ Pháp bằng những Thánh Lịnh (nhà nào cũng phải trồng mì hay lúa, trai phải có nghề nghiệp, gái phải học khoa sanh sản mới được lập gia đình….) liệu nó có hình thành được hay không?

Như vậy những người chỉ biết căn cứ vào PCT rồi suy luận theo hiểu biết của mình không chấp nhận việc Đức Hộ Pháp cầm quyền Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng xin trả lời dùm câu hỏi nầy:

- Nếu không đúng thì tại sao các Đấng lại chỉ dẫn cho Ngài xây dựng được Đền Thánh?

Nếu Đức Hộ Pháp không hoàn thành được việc xây dựng Đền Thánh thì ai trên thế gian nầy có khả năng hoàn thành???
&&&​

Nhiều người đọc Nam Hoa Kinh rất rành chuyện KHÚC SĨ và KHÁCH ĐẠI PHƯƠNG, kể chuyện THỦY THẦN ra biển lớn vanh vách nhưng đến khi chính mình nhập vai Khúc Sĩ hay Thủy Thần mà không hay khiến cho họ lâm vào cảnh tình trớ trêu đã đành, còn lôi kéo người khác tin theo mới là éo le và bế tắc. (Nên Văn Chí hay nhớ vậy để tự nhắc mình).

Khúc sĩ là sao? Khúc sĩ là người có cái nhìn phiến diện, chỉ hiểu được một khía cạnh (mà chưa chắc đã hiểu đúng) lại biện luận để bài bác những người đã làm nên công nghiệp vĩ đại, chánh đáng và hiển nhiên trước nhân quần xã hội (đời).

Thủy Thần là Hà Bá ở sông nhỏ. Trời vào thu, một hôm mưa to đẩy Thủy Thần ra biển cả. Thủy Thần vốn chỉ biết có khung trời quen thuộc, quen với nước ngọt giờ thấy đại dương mênh mông, lại gặp nước mặn nên thẩn thờ, than thở, chê sao không giống khúc sông xưa.
&&&​

(CÒN TIẾP: 2- Xây dựng những thể pháp khác).​
 
Sửa lần cuối:
ĐẠO PHÁP HIỆN HỮU (tt).​


2- Xây dựng những thể pháp khác.

Đền Thánh với vô vàn bí pháp ẩn tàng chắc chắn là đầu nguồn để chư hiền nhân quân tử tìm hiểu, nghiên cứu mà đưa ra những văn bút, giáo án, sử chương phụng sự nhân loại.

2.1- Nhưng Đức Hộ Pháp từng nói rằng xây dựng Đền Thánh là làm dùm thiên hạ còn xây dựng Trí Huệ Cung (Thiên Hỉ Động) mới là nhiệm vụ chính của Ngài. Trí Huệ Cung đơn sơ và khiêm nhượng nhưng lại là nơi đưa 92 ức nguyên nhân qui hồi cựu vị.

Ngoài ra còn Trí Giác Cung (Địa Linh Động) với nhiệm vụ:
Cung Trí Giác trụ tinh thần,
Hườn hư mầu nhiệm thoát trần đăng tiên.
(Kinh Đệ Cửu Cửu)​

Định vị Vạn Pháp Cung (Nhơn Hoà Động) với nhiệm vụ:
Vào Cung Vạn Pháp xem qua,
Cho tường cựu nghiệp mấy Tòa thiên nhiên
(Kinh Đệ Lục Cửu).​

2.2- Địa điểm xây dựng Điện Thờ Phật Mẫu chính thức nếu không phải Đức Hộ Pháp thì ai dám định vị trí xây dựng. Nếu có thì thiên hạ có nghe không hay họ sẽ trề nhún rồi bỏ đó.

2.3- Cực Lạc Thái Bình nếu không có quyền Giáo Chủ trong đó thì ai tôn trọng. May mà có quyền Giáo Chủ định như thế mà ngày nay còn biến tướng thành nguồn kinh doanh rất náo nhiệt.

2.4- Cả khuôn viên của Châu Thành Thánh Địa với thiết kế đường xá, phố chợ, khu dân cư…Rồi ai là người có tư cách để công bố thủ đô của ĐĐTKPĐ là 40 cây số vuông. Điều nầy bất cứ người làm công quả hay có quan tâm đến sự nghiệp đạo đều biết.

Rất nhiều người trong đạo không biết mặt mũi cái bản đồ 40 cây số đó có tứ cận như thế nào hình dáng ra sao. Nhưng tin vào Đức Hộ Pháp thì họ tin tất cả những gì từ Đức Hộ Pháp nói ra và trân trọng lưu truyền nó cho con cháu đời sau. Cứ tin và lưu truyền điều đó cái đã.
Ai nói chánh tín: xin thành thật cám ơn.
Ai nói mê tín: làm thinh chờ sự thật trả lời.
Ai để tâm cộng tác: kính thỉnh vào làm công quả.

Học giả Nguyễn Hiến Lê từng ca ngợi tinh thần người Isarel với tinh thần truyền lửa đời đời: VỀ MIỀN ĐẤT HỨA đã làm cho người Do Thái thất quốc gần hai ngàn năm rồi tái lập lại được (1947).

Thế thì địa điểm xây dựng Điện Thờ Phật Mẫu chính thức, thủ đô ĐĐTKPĐ 40 cây số vuông…. chẳng phải đã được lưu truyền trong hằng triệu triệu con tim, khối óc của người đạo khắp bốn phương trời đó hay sao?

2.5- Những người có đọc vi bằng Hội Nhơn Sanh năm Giáp Dần (1974) từ trang 125 hẳn thấy nhơn sanh trưng ra bản đồ Long Hoa Thị của Đức Hộ Pháp để chất vấn những vị có trách nhiệm trong Hội Thánh về việc tại sao có bản đồ Long Hoa Thị khác với bản của Đức Hộ Pháp mà lại có con dấu của Hội Thánh.
Tại trang 129 nhơn sanh suýt chút nữa đã bị chụp mũ là tiết lộ bí mật...(vì trưng ra bản đồ của giáo chủ giữa hội...)????
May là có Giáo Chủ đở đầu nên nhơn sanh đủ mạnh để hiên ngang qua ải uy quyền....

2.6- Thánh Ngôn Hiệp Tuyển là thiên thơ của ĐĐTKPĐ Hội Thánh chia thành 02 quyển. Vậy mà có lắm nhà nghiên cứu đề nghị hiệp nhứt nó lại vì lý do..... Từ quốc nội đến hãi ngoại hưởng ứng quá chừng.

May thay có người chỉ ra rằng: Giáo Chủ có bố trí 02 quyển Thiên Thơ ở Bát Quái Đài rồi nay muốn sửa thì lên Bát Quái Đài sửa trước đi rồi hãy hiệp nhứt.
Còn như ai có thấy Thánh Ngôn Hiệp Tuyển chưa chính xác điều chi được quyền trình bày tại 03 HLQVL để tu chỉnh.
Ấy là việc mới qua.

Còn như hiện nay có một số chi phái tuyên bố không nhìn nhận Thánh Ngôn Hiệp Tuyển quyển hai (vì các vị đã tách ra trước đó) đó là quyền tự do của các vị (người đạo nên ý thức mà tôn quyền tự do nầy) chớ Đạo không bao giờ phải sửa thể pháp ở BQĐ cho vừa ý các vị cả.

2.7- Thánh Thất Trại Mát (Đà Lạt) chính tay Giáo Chủ ký khóa 03 phần: Hiệp Thiên Đài, Cửu Trùng Đài, Bát Quái Đài với kích thước và phần nền Cửu Trùng Đài có cấp bực (thường gọi Thánh Thất theo mẫu số 2). Trước 1975 Thánh Thất xây được phần nền thì ngưng...sau đến thời của Hội Đồng Chưởng Quản xin pháp nhân 1997 thì họ sửa đổi tất tần tật để làm theo mẫu của họ đưa ra. Nhưng vẫn hô hào là làm theo mẫu Đức Hộ Pháp để lại.

Dầu rằng họ gạt được nhơn sanh trong một thời gian. Nhưng qua đó thì thấy nhơn sanh tín nhiệm Đức Hộ Pháp đến mức nào.

Ngày nay họ làm được như thế nhưng ngày sau hậu tấn trưng bản đồ của Giáo Chủ để lại rồi hỏi một câu:
Theo bản vẽ của Giáo Chủ hay theo cách của pháp nhân 1997?

Ngoài ra còn nhiều địa điểm, nhiều chương trình khác nữa cho thủ đô tôn giáo mà chúng tôi không thể liệt kê hết.

***: Tổ chức nào cũng có thượng tầng và hạ tầng.

Bộ máy thượng tầng hẳn nhiên là quyền uy hơn hạ tầng.
Do vậy Thượng Tầng thường hay ra những luật lệnh hay hành xữ sao cho thuận tiện cho họ mà bất chấp hạ tầng. Có quyền và lạm quyền chỉ là một bước rất ngắn. (Thầy dạy: Cao quyền khó kiếm đặng cao ngôi là vậy).

Xưa kia Đức Thích Ca bằng xương bằng thịt giảng dạy biết bao điều thiết thực. Ngài không muốn môn sinh chấp ở lời nói mà không mở mang sự hiểu biết để hướng dẫn nhơn sanh mới dạy: Ta thuyết pháp trong 40 năm mà chẳng nói lời nào. Những người có chức quyền đời sau vinh vào đó hô lên rằng Phật Giả Vô Ngôn, Phật Tông Vô Giáo để làm cho sai lạc chơn truyền...

Ngày nay văn bút còn đó, dấu vết còn đó mà một số vị trong tầng lớp thượng tầng của ĐĐTKPĐ chưa chi đã thay đổi kiểu mẫu của Đức Hộ Pháp để lại.

Nếu có quyền Vạn Linh mà không có điểm tựa (là quyền giử gìn chơn truyền của Giáo Chủ) thì làm sao cự đương với thượng tầng?

Nhà toán học Hy Lạp Archimedes (287 TCN- 212 TCN) khi phát minh công thức về đòn bẩy ông phát biểu rằng: hãy cho tôi một điểm tựa tôi sẽ bẩy cả trái đất nầy đi.

Giáo chủ hữu hình chính là điểm tựa để hạ tầng (nhơn sanh) bẩy ý kiến hay đề xuất của các vị ở Thượng Tầng không theo khuôn mẫu của chánh giáo ra khỏi tôn giáo và xô họ xuống nếu cần. (Thầy dạy: Cao ngôi chưng đạo chẳng cao quyền phải chăng là đây?)

Ghi nhận đến đây chúng ta thấy rất rõ ràng là chỉ có thượng tầng mới muốn chỉnh sửa hay thay đổi mẫu mực của Đức Hộ Pháp để lại.

Tại sao như thế?
Bởi theo mẫu mực của Giáo Chủ để lại thì họ là đầy tớ của hạ tầng. Họ phải phục vụ cho hạ tầng. Họ phải CHẾT ĐỜI SỐNG ĐẠO mà họ muốn SỐNG CẢ HAI MỘT LÚC nên phải lách cho vừa mâm vừa bát.

Họ muốn chỉnh lại để họ làm ông chủ của hạ tầng. Hạ tầng phải phục vụ cho họ.
@@@

ĐĐTKPĐ dùng Nho Tông chuyển thế thì chưa ai dám phủ nhận. Mà chánh danh là một phần quan trọng không thể thiếu trong học thuyết của Nho Giáo.

Đem áp dụng tính chánh danh vào đây ta thấy nếu Đức Hộ Pháp không có tư cách giáo chủ thì ai nghe?
Và khi Vị Giáo Tông (là anh cả) hay một Hội Thánh khác muốn thay đổi thể pháp của Ngài để lại thì hậu tấn làm sao bảo tồn?

Không có tư cách giáo chủ thì người biết tự trọng cũng không thể công bố như thế chứ đừng nói là bậc tu hành.
Cái nguyên lý từ hữu hình đến vô vi mới giải thích thế nào trước nhân loại?
&&&​

(CÒN TIẾP:3- Hoàn thành Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo).​
 

ĐẠO PHÁP HIỆN HỮU (tt).​

PHẦN BA.


3- Hoàn thành Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.

Trong TỰA của KINH THIÊN ĐẠO VÀ THẾ ĐẠO Hội Thánh đã nói sự thành hình và ý nghĩa.
Chúng Tôi nhắc rằng Hội Thánh ban hành trong thời Đức Hộ Pháp là Chưởng Quản Nhị Hữu Hình Đài Hiệp Thiên và Cửu Trùng.

Nếu Đức Hộ Pháp không có tư cách giáo chủ thì làm sao có đủ quyền viết bài KINH GIẢI OAN ở phần Thiên Đạo.

Không có tư cách Giáo Chủ thì lấy quyền gì là viết 10 bài Kinh ở phần Thế Đạo.

Không có tư cách giáo chủ thì làm sao quyết định nội dung và kết cấu Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo để tạo ra thể pháp như đã có trong kinh?

Không có tư cách giáo chủ thì lấy quyền gì mà ban hành kinh?

Không có tư cách giáo chủ thì ngày nay những người căn cứ vào PCT chú giải lý luận rằng Hộ Pháp không có quyền lập ra KINH THIÊN ĐẠO VÀ THẾ ĐẠO rồi đòi thay vào đó bằng những bài kinh khác thì hậu tấn mới trả lời sao để bảo vệ KINH THIÊN ĐẠO và THẾ ĐẠO đồng thời chỉ ra bản sắc trong lành của Đạo với họ. (*1)

Trả lời không được với trong nội bộ Cao Đài thì người có tôn giáo khác, người lương chê cười thì danh giá của Đạo mới làm sao?

Phủ nhận quyền giáo chủ của Đức Hộ Pháp thì kinh điển của ĐĐTKPĐ còn cái gì? Các vị muốn đưa ĐĐTKPĐ trở lại với thời kỳ dùng kinh Tứ Thời Nhật Tụng buổi ban sơ chăng?

Những bài kinh trong Tứ Thời Nhật Tụng đã đủ cho một tôn giáo khai cơ tận độ và độ tận hay chưa?
Đã đủ cho Vũ Trụ Quan và Nhân Sinh Quan của một tôn giáo chủ trương xây dựng một thế giới Đại Đồng trên nần tảng Bác Ái- Công Bằng hay chưa?

Thầy mở ĐĐTKPĐ là cái nhánh do chính mình Thầy làm chủ mà Thầy để cho môn đệ tự tung tự tác tạo nên việc sai trái lớn lao dường ấy xãy ra hay sao?

Nếu Đức Hộ Pháp làm giáo chủ mà sai thì sao thiêng liêng còn dùng Ngài để ban kinh cho chúng sanh?

Đọc Đạo Sử ta thấy một người thất lễ mà Đức Lý Giáo Tông còn cảnh cáo... phải sửa kẻo Ngài cho chư thần vật chết; thì việc Đức Hộ Pháp làm Giáo Chủ mà sai thì Lý Giáo Tông để yên hay sao?

@@@​
Một thí dụ cụ thể:
Nhờ có tư cách Giáo Chủ của Đức Hộ Pháp nên sau nầy người Đạo sẽ căn cứ vào KINH THIÊN ĐẠO và THẾ ĐẠO bảo tồn KIM TỰ THÁP mà Ngài được lịnh bố trí trên thiên bàn.

Một số người đã thay đổi KIM TỰ THÁP trên thiên bàn thờ tại tư gia để giải thích là chữ chủ hay chi chi đó cho vừa ý họ hiểu....

Nói có sách mách có chứng.

Văn Chí xin trưng ra các bằng cớ sau:

1- Hội Thánh.

Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo từ 1936 đến 1975 đều bố trí:

...........................................1..................................................

..........3...............................2.....................................4...........

5......................6.................7.....................8..........................9

......................10...............11...................12...........................


@@@

1 - Thánh Tượng Thiên-nhãn
2 - Đèn Thái-Cực
3 - Trái cây
4 - Bông
5 - Nước trà (để bên hữu ấy là Âm)
6 - 7 và 8 - Ba ly rượu
9 - Nước trắng (để bên tả ấy là Dương)
10 - và 12 - Hai cây đèn
11 - Lư hương.

Đức Hộ Pháp đã bố trí Thiên Bàn như trên là tạo nên hình tam giác như KIM TỰ THÁP.

Nếu hiểu rằng thiên bàn có người quì cúng thì nó tạo nên 02 tam giác có cạnh chung là đường (5-9).

Người quì cúng là đã đầy đủ 02 tam giác chính có cạnh đáy chung là cạnh (5-9). Mà người thì ở trong 12 con giáp (nên số 12 là số sau cùng trên thiên bàn). (*2).

Văn Chí xin phép dừng ở đây không đi sâu vào ý nghĩa mà chỉ trưng ra bằng chứng rằng thiên bàn của Giáo Chủ bố trí đã bị sửa.

(Các vị trí thức thu ngắn cạnh (5-9) lại cho bằng với (3-4) và kéo cạnh (10-12) dài ra cho bằng nhau.

Sau đến Hội Đồng thu ngắn cạnh (1-9) cho nó ngắn nhất.

Sau đến ông Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng thu ngắn như Hội Đồng và đổi vị trí các số).

(Xin lưu ý rằng quyển KINH THIÊN ĐẠO và THẾ ĐẠO in năm 1975 có 02 bản khác nhau.
Chúng tôi tìm hiểu thì biết rằng bản của Hội Thánh in phần thiên bàn được bố trí y như các lần in trước.
Sau năm 1975 một số vị hữu trách ở Thánh Thất 891 Trần Hưng Đạo liên hệ với nơi in bản kinh năm 1975 cho Hội Thánh để in lại và sửa cách bố trí thiên bàn theo kiểu của Hội Đồng “bản in 1992 sau nầy”.

Cái nguy hiểm là họ vẫn để ngoài bìa là in năm 1975 mà bên trong lại sửa cách bố trí trên thiên bàn.

Chính gia đình Tôi cũng bị lầm vụ các vị ở Thánh Thất 891 mạo nhận nầy!!!
Gạt nhau đến thế thì thôi,
Khiến người lầm lạc, tu hành thế a...

Ôi cái hạnh chơn thật của người tu hành thể hiện như thế mới thiệt là khó nghĩ. ]]]
&&&

2- Giáo Hữu Thượng Lý Thanh. Thiên Bàn Thờ Tại Tư Gia (theo bản trên internet- TỦ SÁCH CAO ĐÀI).
Trưởng Ban Kiểm Duyệt Kinh Sách Hiến Pháp Hiệp Thiên Đài kiểm duyệt: 10-7-Canh Tuất (dl. 11-8-1970). In 01-8-Canh Tuất (1970).


...........................1...............................

3.........................2...............................4

5............6...........7.......... 8................ 9

10......................11.............................12​


* Nhận xét: Ông Giáo Hữu đã thay đổi vị trí các lễ phẩm (sắp xếp cho 03 hàng bằng nhau; giử nguyên số thứ tự) và giải thích đó là chữ CHỦ…
Cách bố trí khác với Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo nhưng vẫn được Hội Thánh kiểm duyệt.
Vậy sau nầy hậu tấn sẽ đem ra Đại Hội Nhơn Sanh để trình và phải chọn một trong hai cách chớ không thể để tồn tại 02 cách bố trí khác nhau. Xin quyết định cho rõ là theo cách của Giáo Chủ bố trí hay theo cách của Ông Giáo Hữu đã được Hội Thánh duyệt?

3- Cách của Hội Đồng Chưởng Quản từ năm 1992. (và sau nầy Chi Phái 1997 cũng dùng).

..................................1...................................

3................................2..................................4

............5........6..........7..........8........ 9............

10.............................11................................12​

(HĐCQ thay đổi vị trí “sắp xếp hàng thứ nhì và thứ tư bằng nhau. Thu ngắn hàng thứ 3. Còn số thứ tự thì giử nguyên).

4- Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng (BƯỚC ĐẦU HỌC ĐẠO trên internet-TỦ SÁCH CAO ĐÀI- Viết sau ngày giải thể Hành Chánh Đạo).

Cách bài trí trên Thiên bàn tại tư gia :


...........................1............................

4.........................2...........................3

...........6..... 8......7........9......5..........

10......................12..........................11​


1. Thánh tượng Thiên nhãn.
4.- Dĩa trái cây. ----- 2. - Đèn Thái Cực. --------- 3.- Bình bông.
6 - Tách nước trà. ------ 8, 7, 9 - ba ly rượu. -------- 5.- Tách nước trắng.
10 và 11 : cặp đèn Lưỡng Nghi.
12 : Lư hương.​


Tác giả xác định lần 2: THAY ĐỔI SỐ & VỊ TRÍ:
1
4-------2-------3
6-8-7-9-5
10------12------11

&&&​
Ông Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng đã tùy tiện thay đổi số thứ tự và vị trí của lễ phẩm và ra sức giải thích theo ý mình.

Vậy mà có nhiều người cũng xưng danh là nhân sự ĐĐTKPĐ, bảo vệ chơn truyền tự nguyện công quả ấn tống và phổ biến những điều nghịch với chơn truyền nầy và hết lòng bảo vệ nó khi có người phê bình mới lạ.

Nếu không có mẫu mực của giáo chủ để lại thì những bực trí thức thượng lưu mà thiếu tinh thần đạo đức sẽ tùy ý họ mà đưa ra những văn bút sửa đổi hay trái nghịch với đạo lý một cách tinh vi thì số nhơn sanh ít học dốt nát, số môn đệ thiệt thà, chơn chất của Đức Chí Tôn ắt bị họ lừa phỉnh dắt đi mất.

&&&​
Tóm lại:

Ai chỉ ra được chổ giáo chủ sai lầm thì đệ trình văn bản chỉ chổ sai ra và có quyền bảo vệ đề tài trước đại hội.

Còn như không có văn bản chỉ chổ sai mà tự tung tự tác sửa đổi để giải thích theo ý mình thì vui lòng chỉnh đốn.

Như không tự nguyện, tự giác sửa cái sai của mình thì quyền Vạn Linh sẽ sai họ phải sửa cái sai của họ. Sai sửa cái sai mà không khứng thì cũng phải đi tới nước cuối cùng là trục xuất chớ chẳng lẽ để cho họ loạn pháp.

ĐĐTKPĐ nhờ có cái mẫu mực của giáo chủ để lại mà bảo tồn chánh giáo. Bảo tồn chánh giáo cũng phải hiểu cho đúng theo nguyên lý đạo pháp chứ không thể lý luận rằng khi xưa đốt đèn Thái Cực bằng dầu ngày nay ai đốt bằng đèn điện thì sai pháp...
Bảo tồn đâu thể dễ duôi,
Bảo tồn như thế khác nào phá tan.
Do đâu mà cảnh giác nhau như vậy?
Xin thưa PCT chú giải có dự liệu ngày kia đạo xuất dương ra ngoại quốc thì việc thờ phượng cũng không thể y như ta đặng....

Nhờ có tư cách giáo chủ của Đức Hộ Pháp nên công việc bảo tồn đạo pháp (trong trường hợp nầy và nhiều trường hợp khác) của hậu tấn chắc chắn sẽ được dễ dàng rất nhiều.

Nội bộ không bị rối loạn (bởi những vị có quyền chức mà quyết định sai với mẫu mực giáo chủ để lại hay những văn bút vô thừa nhận) thì con thuyền phổ độ mới nhẹ nhàng tuông pha nơi khổ hải, ngọn cờ cứu thế mới tung bay.
Đó là chỉnh lý và chấn hưng đi liền nhau trong đạo pháp.
&&&​

(*1): Chỉ riêng cách Hội Thánh tựa đề TÂN LUẬT, PHÁP CHÁNH TRUYỀN thôi thì đã có nhiều người phê bình cả Hội Thánh và Tín Đồ ĐĐTKPĐ (06 bài). Điều đáng lưu ý là họ chưa chỉ ra được Hội Thánh sai chổ nào? Sai đến đâu mà đã phê phán như thế.

[[[xem số bài của hiền Đạt Tường, Dang Võ và Trung Ngôn nơi đề tài: TÌM HIỂU TÂN LUẬT PHẦN ĐẠO PHÁP trên trang web nầy]]]

a- Rồi biết đâu tương lai có người đọc đến tựa bài:

KINH KHAI CỬU
Đại Tường và Tiểu Tường.​
Lại tiếp tục phê bình là Hội Thánh để sai trật tự (Đại Tường làm sau mà lại để trước còn Tiểu Tường làm trước lại để sau- rõ ràng là sai 100%) nội cái tựa thôi đã gây lầm lạc.....đòi sửa tựa là:
KINH KHAI CỬU
Tiểu Tường và Đại Tường.​
Cho phù hợp với thứ tự hành đám.

Họ đâu hiểu rằng Tiếng An Nam là Chánh Tự của ĐĐTKPĐ mà tiếng An Nam được ghi bằng chữ Quốc Ngữ theo mẫu tự LaTinh là loại chữ ký âm. Nghĩa là cùng đọc một âm nhưng còn có nhiều nghĩa nữa.

Chỉ riêng cách đề tựa bài kinh (bằng cách để chữ Đại Trường và Tiểu Tường) thôi chúng tôi tin rằng Hội Thánh đã tạo một thể pháp để những nhà nghiên cứu sau nầy trình ra nhiều luận án tiến sĩ trong cái tựa nầy.

b- Biết đâu tới đây có người lại nhận xét rằng:
Đức Hộ Pháp viết các bài Kinh Thế Đạo:
- Có Kinh Nhập Hội, Kinh Xuất Hội.
- Có Kinh Ra Đường, Kinh Khi Về.
- Có Kinh Khi Đi Ngủ, Kinh Khi Thức Dậy.
- Có Kinh Vào Ăn Cơm, Kinh Khi Ăn Cơm Rồi.
Như vậy:
Ngài viết Kinh Thuyết Pháp mà thiếu Kinh Thuyết Pháp Xong.
Ngài viết Kinh Vào Học mà thiếu Kinh Khi Học Xong.
Phải bổ xung 02 bài nữa cho đủ số 12 là số của Thầy....
Chà lý luận như thế cũng cứng lý chớ chẳng phải thường.
Chừng ấy người đạo mới trả lời sao?

Xin thưa rằng thuyết pháp và học vấn là hai việc không bao giờ xong nên Giáo Chủ viết vậy.
Mở rộng hơn nữa thì Bàn Thờ Hộ Pháp có 11 lễ phẩm. Nên Ngài viết 11 bài kinh là ứng hợp với số 11.
Cảm phiền các vị để yên vậy dùm...

(*2)-
[[[1- Tam giác có thiên thượng là đỉnh.

a- Tam giác cân (1,3,4). Tam giác cạnh đáy (1-4) có 03 lễ phẩm. Kết số cạnh đáy là (3+2+4=9).
Ba thời kỳ, hai nguyên lý, bốn nền văn minh ngày nay kết tinh lại ở Cửu Trùng Đài.

b- Tam giác cân (1,5,9). Tam giác (1,5,9) cạnh đáy có 05 lễ phẩm. Kết số cạnh đáy là (5+6+7+8+9=35). Từ 1-9 là đường dài nhất trên thiên bàn.
Số 5 là ngũ hành, ngũ trung cung, ngũ tạng...
Số 6 là 6 nẽo luân hồi, là lục dục,
Số 7 là số của địa cầu 1 tuần có 7 ngày, ánh sáng có 7 màu, người có thất tình.
Số 8 là số của bát hồn vận chuyển, số của bát quái vô cùng vô tận...
Số 9 số của cửu phẩm thần tiên...
Kết số 35 thể hiện tam giáo ngũ chi....
Cạnh 5,9 còn là cạnh đáy chung cho tứ giác có góc (5, 9, 12, 10).
Còn nhiều tam giác nhỏ khác và tứ giác (6, 8, 10, 12)....

2- Tam giác có đỉnh là thiên hạ.
Tạm gọi thiên hạ là số 13 và lấy đó làm đỉnh ta sẽ được tam giác (13, 5, 9).
Và tam giác (13, 10, 12).

4- Nếu lấy 04 số: 1, 5, 13, 9 ta được một tứ giác.
Tứ giác nầy có đường chéo như cây thập tự.

5- Bát Quái Đài bố trí.
Trên là Tam Thế Phật.
Kế là vạch quẻ (chưa có văn tự).
Đến văn tự. (tên các quẻ).
Đến các bữu pháp.
Điều đó cho thấy:
Đạo là vô tự.
Tôn giáo là văn tự.
Từ vô tự đến văn tự nhân loại phải qua bước đệm là dùng hình ảnh để thể hiện ý tưởng. Nên ngày xưa chữ của Thánh hiền là chữ tượng hình. Rồi sau đó mới đến chữ ký âm.

Tượng hình thì cố định không tải được hết ý nghĩa trong thời năm châu chung chợ, bốn biển chung nhà nên Thầy bố trí các Đấng xuống thế trước lập ra chữ ký âm (chữ quốc ngữ) ở Đại Nam Việt Quốc cho Thầy chọn đó làm chánh tự cho ĐĐTKPĐ.

Nguồn gốc phát sinh chữ quốc ngữ là do các vị giáo sĩ Thiên chúa giáo muốn truyền bá tin mừng mà ra.

Nay Thầy dụng tiếng AN NAM là chánh tự cho ĐĐTKPĐ để truyền bá chân lý, truyền bá Bác Ái- Công Bằng cho toàn nhân loại đó là dùng chữ quốc ngữ đúng với mục đích của những giáo sĩ đã tạo ra chữ quốc ngữ vậy.
(Văn Chí sẽ có một bài riêng về chữ Quốc Ngữ sau khi hoàn thành bài viết nầy).​
Chẳng phải là: Khai đạo muôn năm trước định giờ đó hay sao?

6- Nếu hiểu thiên bàn là bản đồ thì phải theo nguyên tắc của bản đồ:
+ Bản đồ là hình ảnh là nét vẽ, còn chữ chỉ là phần chú thích cho rõ các phần có trên bản đồ.
Cắt ngắn đường (5-9), kéo dài đường (10, 12) để giải thích nó có dạng chữ là không phù hợp với nguyên tắc của bản đồ]]]

@@@

(CÒN TIẾP: 4- Kiện toàn bộ máy hành chánh tôn giáo và chánh trị đạo).​
 
Sửa lần cuối:

dong tam

New member
huynh Trần văn Chí lý luận dài quá, đọc phát mệt!

Xin trao đổi với huynh vài ý:

1. Lịch sử có ghi nhận ngài Cao Quỳnh Diêu nhận lệnh soạn vài bài kinh khi là một trong thập nhị Thời Quân. Vậy ông Diêu có là giáo chủ hay không mà đựoc tư cách soạn những kinh Tam bửu. Thế thì lý luận rằng Đức Hộ Pháp có tư cách giáo chủ mới soạn một số bài kinh, e là chưa dễ được thông cảm.

2. Về cách bài trí lễ phẩm trên Thiên bàn:
2.1. Nếu huynh có tài liệu chứng minh đây là sản phẩm "con đẻ" của Ngài Hộ Pháp Phạm Công Tắc thì xin được mục thị để ghi nhận, học hỏi thêm. Được biết trong Đại Thừa Chơn Giáo (1936) của Chiếu Minh, Đức Chí Tôn có giải thích ý nghĩa của các lễ phẩm trên Thiên Bàn. Vì thế nếu chúng ta không đưa ra được "vật chứng" cụ thể khả dĩ chứng minh đựoc đây là sáng kiến của Ngài Phạm Công Tắc thì mọi người có quyền hiểu rằng Ngài chỉ là người diễn đạt lại ý của Thầy mà thôi. (giống như kiến trúc Đền Thánh vậy)
2.2. Cách sắp đặt lễ phẫm CHỈ tượng hình chữ VƯƠNG, nếu thêm Thiên Nhãn để thành chữ CHỦ thì:
- Thiên Nhãn không là lễ phẩm mà chỉ là biểu tượng (symbol) cho đức Cao Đài trong Tam kỳ phổ độ.
- Cứ cho là Thiên Nhãn cũng là lễ phẩm để tựong hình chữ Chủ, thì nơi Đền Thánh Thiên Nhãn nằm trên bề mặt quả Càn Khôn còn ngọn đèn Thái Cực ở bên trong giữa quả Càn Khôn. Vậy thì nếu xét theo vị trí trong không gian, đèn Thái Cực có vị trí nằm trên cao sau Thiên Nhãn.

3. Có vẽ là huynh Văn Chí nhầm lẫn giữa "bản đồ" là các Long Vị tượng trưng cho Ngũ Chi Đại Đạo là thể pháp chỉ 5 cấp tu tiến với các lễ phẩm tượng trưng cho "bí pháp" Tiên gia luyện đạo của Cao Đài. Vì thế việc "Cắt ngắn đường (5-9), kéo dài đường (10, 12)" chẳng ảnh hưởng chi đến ý nghĩa về mặt đạo pháp vì hình tượng chữ Vương chẳng hề thay đổi.

Xin đựoc học hỏi thêm.
 


Kính hiền dong tam

Cảm ơn hiền dong tam đã quan tâm đến bài viết và đưa ra câu hỏi.

Sáng nay Văn Chí vào diễn đàn mới biết có bài của hiền.

Do vậy Văn Chí xin phép trả lời hiền sau nhé.

Xin thông cảm.

Kính.
 

TRẢ LỜI.​
Bài hiền dong tam ngày 14-02-2013. 05:03 PM#88​

Hiền dong tam viết:
huynh Trần văn Chí lý luận dài quá, đọc phát mệt!

TRẢ LỜI.​
Cảm ơn hiền đã đọc bài và hiểu rằng Van Chí viết bài có lý luận chớ chẳng phải nói khơi khơi vô bằng cớ.
Còn chuyện dài quá làm hiền phát mệt thì Văn Chí chịu lỗi vì không đáp ứng được.
Kính.

&&&​
Hiền dong tam viết:
Xin trao đổi với huynh vài ý:

1. Lịch sử có ghi nhận ngài Cao Quỳnh Diêu nhận lệnh soạn vài bài kinh khi là một trong thập nhị Thời Quân. Vậy ông Diêu có là giáo chủ hay không mà đựoc tư cách soạn những kinh Tam bửu. Thế thì lý luận rằng Đức Hộ Pháp có tư cách giáo chủ mới soạn một số bài kinh, e là chưa dễ được thông cảm.

TRẢ LỜI.​

a- Đi vào Đạo Sử thì đúng là ngài Cao Quỳnh Diêu (khi còn ở phẩm Tiếp Lễ Nhạc Quân (1929) có được Thiêng Liêng dạy và đắc lịnh Hội Thánh viết lại 03 bài kinh dâng tam bữu. Sau đó còn đắc lịnh viết bài Kinh Tán Tụng Công Đức Diêu Trì Kim Mẫu, và dâng lên Bà Bát Nương chỉnh văn lại...(1932).
Nhưng trong Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo không để tên Ngài vào.
Văn Chí không đề cập đến vì ngại lẽ quá dài (ngoài đề tài).

Đơn giản như một câu văn đầy đủ còn có chánh phụ.

Đến như một cái nhà thì ai cũng biết có nào là cột cái, cột con, kèo, đòn tay, rui, mè....

Công nghiệp các vị lưu danh trong thanh sử đương nhiên cũng có sự cộng tác của nhiều người chớ một mình đâu thể làm nên. Trong công nghiệp đó cũng có chánh có phụ.

Như vậy thì việc lớn của một tôn giáo cũng không là ngoại lệ.

Cùng tham gia viết kinh nhưng có chánh và phụ trong đó hiền tự minh lý CHÁNH, PHỤ ắt hiểu.

b- Ngài Cao Quỳnh Diêu không phải là một trong Thập Nhị Thời Quân.

Ngài Cao Quỳnh Diêu (1884- 1958), hiệu là Mỹ Ngọc, nên thường xưng là Cao Mỹ Ngọc, Đạo hiệu là Cao Liên Tử. Ngài đắc phong Bảo Văn Pháp Quân (1930). Ngài là một trong Thập Nhị Bảo Quân.

c- Văn Chí tham gia trang web với tinh thần làm công quả.

Làm công quả là phục vụ lẽ công, như khi đang hành đạo, mà hành đạo thì không có tư vị.
Nhân sự nhỏ nhất ở hàng chức việc khi hành chánh cũng phải minh thệ giử dạ vô tư... cho dù cha mẹ, vợ con cũng không tư vị.

Trong khi trình bày việc Đức Hộ Pháp là Giáo Chủ Đạo Cao Đài thì căn cứ vào văn bút của Ngài để lại rồi vận dụng chánh giáo của Đức Chí Tôn mà làm rõ đề tài.

Nó thuộc về chân lý (không phải xã giao, hay luân lý) nơi thập mục sở thị, thập thủ sở chi phải kỳ nghiêm hồ (mười mắt nhìn vào, mười tay chỉ vào, phải cẩn thận) chớ thì đâu thể xuề xòa, đâu thể kêu gọi thông cảm được.

Văn Chí không có ý thuyết phục ai, chỉ hiệp lực với các vị quan tâm để cùng nhau xác định rằng chánh giáo của Đức Chí Tôn ngoài PCT còn có Thiên Thơ, có Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo, có Thể Pháp và Bí Pháp....

Văn Chí thảo luận công khai để ai thấy sai thì chỉ ra chổ sai đó hầu học hỏi chớ không có ý thảo luận để xin thông cảm làm nhẹ thể nền Đạo quí giá của Đức Chí Tôn được..

Nếu có chổ nào Văn Chí xin thông cảm về việc Đức Ngài làm giáo chủ thì hiền chỉ ra để Văn Chí chịu lỗi để sửa chổ gây ra hiểu lầm là đã xin thông cảm đó liền.

Văn Chí trình bày chân lý thì cần khách quan, khoa học không có lý do chi mà xin thông cảm làm mất thể thống Đức Hộ Pháp và nền đạo.

Kính.
&&&​

(CÒN TIẾP CÂU 2: Về cách bài trí lễ phẩm trên Thiên bàn)​

 
TRẢ LỜI (tt)​

Hiền dong tam viết:

2. Về cách bài trí lễ phẩm trên Thiên bàn:

2.1. Nếu huynh có tài liệu chứng minh đây là sản phẩm "con đẻ" của Ngài Hộ Pháp Phạm Công Tắc thì xin được mục thị để ghi nhận, học hỏi thêm. Được biết trong Đại Thừa Chơn Giáo (1936) của Chiếu Minh, Đức Chí Tôn có giải thích ý nghĩa của các lễ phẩm trên Thiên Bàn. Vì thế nếu chúng ta không đưa ra được "vật chứng" cụ thể khả dĩ chứng minh đựoc đây là sáng kiến của Ngài Phạm Công Tắc thì mọi người có quyền hiểu rằng Ngài chỉ là người diễn đạt lại ý của Thầy mà thôi. (giống như kiến trúc Đền Thánh vậy).
&&&​

Xin phép chia ra từng đoạn cho rõ.

ĐOẠN MỘT.​
2.1. Nếu huynh có tài liệu chứng minh đây là sản phẩm "con đẻ" của Ngài Hộ Pháp Phạm Công Tắc thì xin được mục thị để ghi nhận, học hỏi thêm.

TRẢ LỜI.​
Cả Đức Hộ Pháp và toàn thể nhân sự ĐĐTKPĐ chân chính đều nhìn nhận Đức Chí Tôn là giáo chủ của nền Đạo.

Đức Hộ Pháp được Hội Thánh và Quyền Vạn Linh công cử cầm luôn Quyền Chưởng Quản Cửu Trùng Đài là Ngài có quyền Chí Tôn tại thế để LẬP THÀNH CHÁNH GIÁO theo lịnh Thầy (Ngọc Hư Cung).

Cầm chánh giáo là chủ.

Lập thành chánh giáo là thi hành mạng lịnh của chủ.

Đây là nền tảng cho cả bài viết. Văn Chí đã lập đi lập lại nhiều lần.

Như vậy cả sở hành của Đức Hộ Pháp đều theo lịnh Đức Chí Tôn. Ngài không tự tạo ra kinh, không tự tạo ra thiên bàn hay điều chỉnh các việc khác.

Do hiền (ngắt khúc) nên hiểu sai ý của Văn Chí mà có yêu cầu trên mà thôi.

Còn văn tự trong tôn giáo thì Văn Chí không chia xẽ chữ “con đẻ” của hiền dùng. Cho dù nó trong dấu ngoặc văn chí cũng nghĩ rằng nó không thích hợp với tôn giáo trong trường hợp nầy.

Dĩ nhiên Văn Chí có quyền nhận xét còn hiền có đủ quyền giữ nguyên chữ “con đẻ” mà xài tiếp nếu thấy còn thích.
&&&

ĐOẠN KẾ TIẾP:​
Được biết trong Đại Thừa Chơn Giáo (1936) của Chiếu Minh, Đức Chí Tôn có giải thích ý nghĩa của các lễ phẩm trên Thiên Bàn. Vì thế nếu chúng ta không đưa ra được "vật chứng" cụ thể khả dĩ chứng minh đựoc đây là sáng kiến của Ngài Phạm Công Tắc thì mọi người có quyền hiểu rằng Ngài chỉ là người diễn đạt lại ý của Thầy mà thôi. (giống như kiến trúc Đền Thánh vậy).

TRẢ LỜI.​

Chuyện thiên bàn của Pháp Môn Cao Đài Chiếu Minh Tam Thanh Vô Vi bố trí thế nào, có bao nhiêu lễ phẩm...Văn Chí không rõ lắm và xét thấy nó độc lập với ĐĐTKPĐ nên Văn Chí không tham gia bàn luận.

Còn thiên bàn của ĐĐTKPĐ Văn Chí cũng hiểu như hiền là Đức Hộ Pháp vâng lịnh Đức Chí Tôn mà bố trí như thế.
Không riêng về thiên bàn mà toàn bộ sở hành của Đức Hộ Pháp can hệ đến tôn giáo Ngài đều vâng lịnh Đức Chí Tôn mà thi hành.

Tư cách giáo chủ (để lập thành chánh giáo) của Ngài thể hiện qua 02 phương diện:

+ Đem những điều Đức Chí Tôn dạy đến cho nhơn sanh.

+ Để cho đời sau không được phép tự ý chỉnh sửa.

Đó là với chúng ta, người có tín ngưỡng và tin vào Đức Cao Đài.....

Còn với người không có tín ngưỡng (không tin có Trời có Phật) họ nói chắc rằng: Tôi không thấy ông Trời, ông Phật nào hết Tôi thấy nó phát xuất từ ông Phạm Công Tắc nên tôi nói đó là của Ông Tắc làm ra... văn chí cũng không thể CÃI LẠI ĐƯỢC HỌ. Mình phải tôn trọng quyền tự do không tín ngưỡng của họ mà thôi.
&&&​

CÂU 2.2.

2.2. Cách sắp đặt lễ phẫm CHỈ tượng hình chữ VƯƠNG, nếu thêm Thiên Nhãn để thành chữ CHỦ thì:
- Thiên Nhãn không là lễ phẩm mà chỉ là biểu tượng (symbol) cho đức Cao Đài trong Tam kỳ phổ độ.
- Cứ cho là Thiên Nhãn cũng là lễ phẩm để tựong hình chữ Chủ, thì nơi Đền Thánh Thiên Nhãn nằm trên bề mặt quả Càn Khôn còn ngọn đèn Thái Cực ở bên trong giữa quả Càn Khôn. Vậy thì nếu xét theo vị trí trong không gian, đèn Thái Cực có vị trí nằm trên cao sau Thiên Nhãn.

TRẢ LỜI.​
Văn Chí hiểu 12 lễ phẩm trên thiên bàn tại tư gia nó vừa là thể pháp và có bí pháp trong đó.
Văn Chí chỉ thảo luận (theo mức độ giới thiệu) cách bố trí theo Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo để phục vụ bài viết.
Mà thể pháp và bí pháp nói một câu cũng đủ; nói cả đời cũng chưa hết. Văn Chí gượng gạo trình bày mấy câu may mà không có sai.
Còn như đi xa hơn nữa thì Văn Chí phải học thêm và viết trong bài khác.
&&&

(CÒN TIẾP CÂU 3)​
 
TRẢ LỜI (tt và hết)​

CÂU 3:
Hiền dong tam viết:
3. Có vẽ là huynh Văn Chí nhầm lẫn giữa "bản đồ" là các Long Vị tượng trưng cho Ngũ Chi Đại Đạo là thể pháp chỉ 5 cấp tu tiến với các lễ phẩm tượng trưng cho "bí pháp" Tiên gia luyện đạo của Cao Đài. Vì thế việc "Cắt ngắn đường (5-9), kéo dài đường (10, 12)" chẳng ảnh hưởng chi đến ý nghĩa về mặt đạo pháp vì hình tượng chữ Vương chẳng hề thay đổi.
Xin đựoc học hỏi thêm.

TRẢ LỜI.​

Văn Chí trình bày về Thiên Bàn thờ tại tư gia từ khi có Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo theo cách của Hội Thánh chỉ dạy. Không hề có sự nhầm lẫn nào hết.

Văn Chí bảo đảm chính xác 100% còn cái chi ngoài nữa (như Long Vị chi chi) thì Văn Chí không có đề cập (bởi không nằm trong đề tài).

Việc thay đổi đường (5,9) và kéo dài (10,12) là có thật.

Đó là đã thay đổi thể pháp của tôn giáo.

Thay đổi thể pháp tôn giáo rồi bàn luận là điều Văn Chí rất kỵ.

Còn hiền cho là thay đổi như thế chẳng ảnh hưởng chi cũng là một cách hiểu. Thôi thì chờ khi có hội nhơn sanh thì nhơn sanh định quyết xem theo cách của giáo chủ bố trí hay theo cách các vị trí thức chỉnh sửa.

Khai mở ĐĐTKPĐ Thầy đã xác định dùng TIẾNG AN NAM làm chánh tự.

Tiếng An Nam ngày nay được thể hiện bằng chữ quốc ngữ. Văn Chí không hiểu chi về chữ CHỦ hay chữ VƯƠNG
Văn Chí cũng có bạn đạo là bậc túc nho (viết chữ Nho như lặt rau) giảng hoài chữ Vương chữ Chủ nầy mà cái cục đất sét trong đầu không vỡ ra nên Văn Chí không hiểu chi trong đó đành chịu yếu kém nên không bàn.

Văn Chí nói vui mình ăn chay, học đạo mà sao nở KÉO CHÂN CON VỊT, THÚC GIÒ CON HẠC cho nó đau khổ vậy?

Các vị hỏi sao?

Văn Chí đáp thì kéo đường (10,12) và thúc đường (5,9) chẳng phải là kéo ra nó khổ, thúc vào nó đau như Nam Hoa Kinh của Trang Châu viết đó sao?

Các vị ném cho câu:
Tửu phùng tri kỷ thiên bôi thiểu,
Thoại bất tương đồng bán cú đa.
(Uống rượu với bạn hiểu nhau ngàn chung còn ít,
Nói chuyện mà không hợp thì nữa câu cũng nhiều).

Văn Chí cười khì nói rằng mình không ở vào diện nào hết...mình ngon lành hơn nhiều; mình là bạn đạo nên cứ thương và quí nhau làm chính.

Văn Chí và hiền dong tam là bạn đạo nên rất vui khi được câu hỏi của hiền.

Thành thật cảm ơn hiền đã gởi câu hỏi.
Văn Chí mong rằng hiền tiếp tục thảo luận để cùng nhau minh lý.

Nay Kính.
 

Facebook Comment

Top