2. Chấp tay
2.1. Chấp tay Ấn Tý:
Chúng ta thấy các vị bên Chiếu Minh từ trước đến nay vẫn chấp tay như bên Phật giống như Minh Sư, v.v…
Như vậy, vào đêm giao thừa Bính Dần (12-2-1926) thời điểm Đức Chí Tôn “Lập Đạo”, chư vị Tiền Khai khi hành lễ thì hai tay vẫn chấp lại như bên nhà Phật hay đã biết bắt Ấn Tý như lời Thầy đã dạy trước đó mấy ngày?
Có thể trong những buổi đầu của năm Bính Dần đó, chư vị còn chưa quen với cách chấp tay Ấn Tý mới vừa được dạy. Cho nên trước ngày Lễ Thượng Nguơn - Rằm tháng giêng Bính Dần trong buổi đàn ngày 13, Đức Chí Tôn đã dạy chi tiết thêm về cách thức bái lạy cho chư vị. Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có ghi nhận đàn này như sau:
“Trung... vô giữa lễ bái, cho Thầy coi... Con làm lễ trúng, song mỗi gật, con nhớ niệm câu chú của Thầy: “Nam Mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”... Khi bái lễ: hai tay con chấp lại, song phải để tay trái Ấn Tý, tay mặt ngửa ra nằm dưới, tay trái chụp lên trên.”
Vậy nếu hiểu theo nghĩa đen của lời Thánh Ngôn này, để ý đến cụm tử “tay mặt ngửa ra”, chúng ta dễ dàng thấy rằng hình thức bắt Ấn Tý vào lúc ban sơ có khác với hiện nay.
Ngày nay chúng ta thấy quý vị tu bên Minh Lý cũng xưng danh là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ - Minh Lý đạo (1924). Bên nữ vẫn giữ cách chấp tay như Phật giáo nhưng nam phái lại chấp tay Ấn Tý giống bên Cao Đài giáo. Điều này thúc đẩy chúng tôi đi tìm hiểu xem môn sanh Minh Lý đã được dạy như thế từ khi nào.
Theo tài liệu lưu trử của Minh Lý đạo, chúng tôi tìm được đàn giải thích ý nghĩa việc bái lạy vào ngày 03-10-1926:
“Nam Nhạc Hoành Sơn Tư Thiên Chiêu Thánh Đại Đế…
Ta có lên yết Thánh Vương. Ta có hỏi giùm việc lễ thì Ngài nói để chừng chư nhu học thêm kha khá thì dạy mới hiểu. Ngài có chỉ sơ ít câu…
- Hai tay chấp nơi ngực gọi là gì? Chư nhu nói thử coi.
- Thiện bạch: tay trái là dương, tay mặt là âm, hai tay hiệp lại tại tâm chỉ nghĩa là âm dương hiệp thành nhứt khí.
- Là lưỡng thủ bảo Thái Cực.
- Còn đem trên trán là sao?
- Thiện thưa: ấy là quy về khí Hư Vô.
- Phản bổn hườn nguyên.
- Còn bắt từ trán mà đem dài xuống cẳng là gì?
- Thiện bạch: khử trược lưu thanh.
- Ý phân lưỡng thối.
- Còn lúc cúi đầu xuống đất là sao?
- Thiện bạch: điều đó thiệt tôi không hiểu.
- Nhãn quang khước tim.
- Có ngươi biết mà thôi. Bởi vậy Đức Thánh vương chẳng muốn dạy vì việc ấy rất huyền diệu chẳng thể nói rõ.
Nhãn quang khước tim, nhứt thốn tam cao là chỗ khi ngươi mới cúi đầu xuống thì nhãn quang phóng nơi đó.
Lưỡng thủ bảo Thái Cực, chẳng phải nói như thể chư nhu đồng chấp tay vậy đâu. Phải Ấn Tý và trở hai phía nơi ngón cái ra ngoài, ngón út vào trong ngực.
Thiện ngươi làm cho ta xem.(Thiện làm không được)
- Chánh ngươi phải để cơ xuống cho ta cử thủ.
(Ngài sửa tay Chánh thành ra một cái Ấn.)
- Chư nhu rõ chưa?
- Cái ấn khi xưa cũng có chỗ dung vì đã cho bài “lục căn” “tam tâm”: sáu ngón ngay ra là lục căn, còn ba lỗ lớn là tam tâm.”
Qua nội dung của bài Thánh giáo này, chúng ta có thể suy đoán rằng việc dạy cách lễ bái và bắt Ấn Tý cho chư vị nam Minh Lý chỉ mới có trong thời gian gần đấy mà thôi, vào khoảng sau giữa năm 1926. Tiếc là bổn lưu trữ của đàn này vẫn chưa tìm ra.
Đem so sánh 2 lời Thánh giáo giữa Cao Đài và Minh Lý:
▪ “Khi bái lễ: hai tay con chấp lại, song phải để tay trái Ấn Tý, tay mặt ngửa ra nằm dưới, tay trái chụp lên trên” (Cao Đài).
▪ “Phải Ấn Tý và trở hai phía nơi ngón cái ra ngoài, ngón út vào trong ngực” (Minh Lý).
và lần lượt thực hành, chúng ta thấy cách bắt Ấn Tý vào năm Bính Dần lịch sử xưa kia, dầu của Cao Đài hay Minh Lý đều giống nhau ở chỗ lòng bàn tay ngửa ra và hướng lên trên. Như vậy, cách chấp tay Ấn Tý ban sơ có khác với hiện nay