Tìm hiểu về Đ.Đ.T.K.P.Đ

dong tam

New member
Nhận Định:

Giao thừa ngày mồng một tháng giêng năm Bính Dần 1926, Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ra đời đánh dấu khởi điểm Năm thứ Nhứt của Kỷ Nguyên Cao Đài Cơ Phổ Độ. Đức Chí Tôn đã chọn năm tháng ngày giờ này để phát lệnh: “đi độ người” và “truyền bá cho chúng sanh”

• Năm Bính Dần, tháng giêng. Cả hai đều thuộc “thời Dần”, thời “Nhơn sinh ư Dần”.

• Mồng 1 đầu năm là ngày kỷ niệm Đức Di Lạc, theo truyền thống của Phật giáo.

• Giao thừa giờ Tý: tượng trưng cho “nhứt dương sanh” của quẻ Phục. (phục hồi = quay về quê cũ). Đây là thời điểm chuyển tiếp giữa ngày Nhâm Thân (30) sang ngày Quý Dậu (mùng 1).

Vậy thời điểm của năm tháng ngày giờ này mang ý nghĩa tượng trưng: Đức Thượng Đế đã cho Đức Di Lạc Vương – Hoàng Cực Chủ Nhân Ông làm chủ Đệ Tam Long Hoa Đại Hội để cứu độ nhân loại trong Đại Ân Xá Kỳ Ba. Tín hữu Cao Đài cần ý thức thời kỳ có một không hai này trong tiến trình lịch sử tiến hóa tâm linh nhân loại hầu chớp lấy thời cơ góp phần thi hành sứ mạng trọng đại độ tận vạn linh mà trước tiên là đưa dân tộc Việt đến “Thân Dậu niên lai kiến thái bình”.
 

dong tam

New member
Kết Luận:

Giao thừa mồng 1 Tết Bính Dần 1926, thời điểm đánh dấu sự ra đời của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, một thời điểm huy hoàng thể hiện tinh thần hoà hiệp đẹp đẽ giữa nội giáo tâm truyền và ngoại giáo công truyền.

Các tài liệu đạo sử đã trích dẫn cho chúng ta có được cái nhìn tổng quát về quan điểm của chư vị Tiền Khai khi nhắc lại sự kiện ở thời điểm lịch sử này.

Khôi phục tinh thần và sự kiện lịch sử này để tất cả chúng ta, những học trò tiên nhỏ dầu căn cơ duyên nghiệp của mình thiên về hướng nào đi nữa giữa tâm pháp hay phổ độ, dầu có thụôc chi phái hay không cũng đều ý thức đến Sứ Mạng Tam Kỳ Phổ Độ với chúng sanh. Và với ý nghĩa “quy nguyên” của Hoàng Cực – Di Lạc Vương Đệ Tam Long Hoa Hội, con đường hồi nguyên đang rộng mở cho những ai “hữu duyên hạnh ngộ Tam Kỳ” và có ý thức hoàn thành Sứ Mạng Kỳ Ba, song hành cả hai mặt: Phổ Độ và tìm về Đạo Tự Hữu.
 

dong tam

New member
XÁC MINH NGÀY ĐỨC CHÍ TÔN “LẬP ĐẠO”

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đã được Đức Chí Tôn Khai Lập vào khi nào đang là một trong những vấn đề lịch sử trọng yếu nhưng rất tiếc lại có khá nhiều tín đồ và chức sắc Cao Đài chưa thông suốt! Từ đó dẫn đến hệ lụy là cách ghi Năm Đạo trong các sớ, văn bản hành chánh và nhất là trong những lễ kỷ niệm gây ra nhiều thắc mắc cho tín đồ và quan khách! Thật lạ lùng, hầu như các sách sử đạo của những tác giả trong khoảng 40 năm trở lại đây hầu như không có nhấn mạnh xác định chi tiết trọng yếu này! Trong khi đó các sách của những tác giả đã viết khoảng 10 năm đầu sau khi Cao Đài giáo mới hiện diện có nhấn mạnh đến điểm này nhưng vì đã quá lâu nên ít người có cơ hội để đọc! Vì thế hiện nay có nhiều quan điểm về ngày khởi đầu của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ!

Có nơi chọn ngày Đức Cao Đài lần đầu xưng danh Thượng Đế (25 tháng 12 năm 1925), có nơi chọn giao thừa mùng 1 Tết Bính Dần 1926, có nơi lại đổi năm Đạo qua sự kiện Khai Tịch Đạo ngày 23 tháng 8 âm lịch, nhưng cũng có nơi gọi ngày Rằm tháng 10 “Lễ Thánh Thất” là Tết Đại Đạo! Mặc dầu số đông các quan điểm đều thống nhất ở yếu tố lấy năm Bính Dần là thời gian đã diễn ra các sự kiện. Tuy nhiên trong thực tế ngày nay phần lớn lại không thể lý giải được câu hỏi, với cách ghi Năm Đạo của mình như hiện nay thì vào năm Bính Ngọ - 2026, lúc đó tròn 100 năm xuất hiện Đạo Cao Đài vào năm Bính Dần – 1926, tại sao Năm Đạo lại được ghi là 102 chứ không phải là 101! Đi tìm lời giải cho câu hỏi này là trách nhiệm của bất cứ tín hữu Cao Đài nào có quan tâm đến lịch sử nhà Đạo và có ưu tư đến việc cần thiết phải trả lại giá trị lịch sử vốn có của nó!
 

dong tam

New member
I. TRUY TÌM CÁC CHỨNG CỨ LỊCH SỬ

Vì đây là vấn đề thuộc lịch sử tôn giáo, vì thế việc đi tìm lời giải đáp từ các kinh sách hiện đang lưu hành là điều trước tiên chúng ta cần phải quan tâm, nhứt là với đức tin của các tín hữu Cao Đài.

1. Từ nguồn Thánh Ngôn và Thánh Giáo

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển Bổn Thứ Nhất xuất bản lần đầu tiên vào năm 1928

• Ở trang 69 có đàn tại Thánh thất Cầu Kho (1er Février 1927):
“… Nền Đạo cao thâm là mấy, chí phàm không thấu lý sâu. Nếu các con chẳng ra khỏi vòng trần tục thì các con chẳng là luống công theo Thầy kể cả đầy năm.”

• Tiếp sau đó là đàn giao thừa Đinh Mão 1927, lời dạy của Thầy có nội dung nhắc lại sự kiện lịch sử trước đó tròn một năm, , như sau:

"... Trung, Cư, Tắc, mấy con nhớ đêm nay năm rồi thế nào, còn nay ra thế nào chăng? Thầy lập Đạo năm rồi ngày này thì môn đệ của Thầy chỉ có 12 đứa ...
Thầy hỏi nếu chẳng phải quyền hành Thầy, dù cho một vị Phật thiệt lớn giáng thế đi nữa cũng chưa có phương chi mà độ hơn bốn muôn sanh linh … trong một năm cho đặng bao giờ.
Thầy vui mầng, Thầy khen tặng hết cả bốn muôn môn đệ của Thầy
…”

Vậy theo lời Thánh Ngôn, Đức Chí Tôn khẳng định lại Ngài đã Lập Đạo vào giao thừa Tết Bính Dần 1926.
Hầu hết các tín hữu Cao Đài đều có đọc Thánh Ngôn Hiệp Tuyển nhưng lại có rất ít người quan tâm đến bài Thánh Ngôn này! Lý do bởi nội dung lời dạy của Thầy trong đàn này hầu như nghiêng về việc ban thưởng chức sắc cho những vị hữu công chứ không phải là bài giảng về đạo lý!

Hơn 30 năm sau, trong Thánh Huấn Hiệp Tuyển số 1 của Hội Thánh Tiên Thiên xuất bản, có bài Thánh giáo với tựa đề “Lý Đạo Cơ Thiên”. Đức Chí Tôn một lần nữa đã nhắc lại để các môn đệ Cao Đài không nhầm lẫn ý nghĩa giữa hai sự kiện giao thừa và 23 tháng 8 Bính Dần. Thầy dạy:

“Các con đã hiểu câu "Thiên khai ư Tý, Địa tịch ư Sửu, Nhơn sanh ư Dần".
Vì lý Trời như thế, nên từ niên Giáp Tý, Thầy chuyển cơ Đạo cho anh con là Ngô Minh Chiêu thọ chơn truyền của Thầy trước. Đến Ất Sửu, Thầy mới tỏa lần lần.

Đến Bính Dần, Thầy mới mở Đạo là ngày sơ nhứt chánh ngoạt, Thầy thâu thập nhị môn đồ của Thầy đầu tiên đó.
Các con đã lầm tưởng ngày nhị thập tam, bát ngoạt là ngày Thầy mở Đạo. Không phải thế đâu con! Chính ngày ấy anh con là Lê Văn Trung khai Đạo với chánh phủ Pháp.
Các con hiểu rõ cơ Trời đã qua như thế
.” [Thánh Huấn Hiệp Tuyển 1, bài 56 ]
 

dong tam

New member
Tuy nhiên nếu dùng Thánh Ngôn hay Thánh giáo để chứng minh lại không là chứng cứ khách quan khoa học có thể thuyết phục lòng tin của những nhà nghiên cứu trong đời sống! Vả lại trong tình hình thực tế nhà Đạo đang tồn tại nhiều Hội Thánh cho nên không phải mọi tín đồ Cao Đài đều có điều kiện và cơ hội được đọc kinh sách của Hội Thánh bạn! Vì thế, nhân chứng và vật chứng là những yếu tố khách quan khoa học buộc chúng ta phải đi tìm để chứng minh cho “giả thiết” mà Thánh giáo đã nêu lên!

Như vậy, trong các tài liệu để lại của chư vị Tiền Khai Đại Đạo đã đề cập đến các sự kiện và những thời điểm này thế nào?
 

dong tam

New member
2. Từ Nguồn Tài Liệu của Các Nhân Chứng Lịch Sử

Các sách xưa đã lưu trữ được những thông tin gì về các thời điểm lịch sử này? Đây là những vật chứng cần thiết phải được tìm lại để khảo cứu.

Qua nguồn tư liệu của Tòa Thánh Tây Ninh chúng ta có tìm được một số tài liệu của vài nhân vật lịch sử như:

2.1. Quyển Tiểu Sử Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt có đăng bài giảng đạo vào năm Mậu Thìn – 1928, kỷ niệm 2 năm sự kiện soạn Tờ Khai Tịch Đạo.

Khi đó Ngài Lê Văn Trung còn đang ở phẩm Thượng Đầu Sư có nhắc lại những thông tin quan trọng để đạo hữu “tường lãm” thời điểm đánh dấu việc ra đời của Đạo Cao Đài với một đoạn nội dung như sau:

“6 Octobre 1928.
Chư đạo hữu rất yêu dấu... 23 tháng tám năm Mậu Thìn.
Tôi rất hân hạnh vì ngày nay được thay mặt trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đặng thổ lộ ít lời nhắc tích ngày kỷ niệm hôm nay. (…)

Ngày tháng như thoi đưa, ngoảnh lại ngày Đấng Chí Tôn hiệp chúng ta nơi đây đặng lo lập Tờ Khai Đạo tới nay là hai năm chẵn. Tôi xin nhắc lại cho chư hiền hữu lãm tường. Đấng Chí Tôn có dạy “Bàn Cổ sơ khai, Nhơn sanh ư Dần”, cho nên ngày Đấng Chí Tôn mở đạo là ngày mồng một năm Bính Dần. Ngày ấy, Thầy sắp đặt 12 người lo khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, mỗi người lãnh phận sự lo đi truyền bá
…”

Chúng ta hãy để ý đến câu “Tôi xin nhắc lại cho chư hiền hữu lãm tường”. Với hai từ “lãm tường” của Ngài Thượng Đầu Sư cho thấy Ngài muốn nhấn mạnh đến một vấn đề mà nhiều đạo hữu khi đó chưa được hiểu rõ.

Nội dung “Bàn Cổ sơ khai, Nhơn sanh ư Dần” trong bài giảng này tương đồng với ý trong bài Lý Đạo Cơ Thiên. Có một tài liệu lịch sử khác cũng có nhắc đến Lý Đạo này:
 

dong tam

New member
2.2. Quyển Đạo Mạch Truy Nguyên.

Là cháu gọi Ngài Cao Quỳnh Cư là chú Tư, tác giả Huệ Chương đã cho phát hành quyển sách này vào năm 1929. Sách được tác giả trình bày với hình thức một quyển truyện lịch sử. Về sự kiện giao thừa Bính Dần, ông kể như sau:

“Thầy cho các con hiểu rằng: Buổi tạo Thiên lập Địa, Thầy sanh loài người ra, nhằm ngày Dần "Nhân sanh ư Dần". Vậy từ đây, Thầy dùng các con làm tay chơn mà gầy dựng nền Chánh giáo. Lại cũng kể ngày nay là ngày phát khởi nguồn Đại Đạo, lấy hiệu Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.”

Còn Ngài thì tá danh Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát. Rồi Ngài giải rõ rằng: Trong danh hiệu của Ngài, gồm đủ Tam Giáo: Nho, Đạo, Thích. Nên Đại Đạo Tam Kỳ khai nhằm giờ Tý, ngày mồng một, năm Bính Dần là do nơi đó.”

Chúng ta thấy có đoạn Thánh Ngôn "Nhân sanh ư Dần" với nội dung tương tợ như bài giảng đạo của Ngài Thượng Trung Nhựt vào năm 1928, vừa trích dẫn ở trên. Nhưng có thêm chi tiết “ngày nay là ngày phát khởi nguồn Đại Đạo, lấy hiệu Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”.

Nhưng nguồn tài liệu này khó kiểm chứng vì cho đến nay chúng ta vẫn chưa tìm lại được vật chứng là bài Thánh Ngôn gốc này. Tuy nhiên chắc chắn đã phải có lời Thánh Ngôn này trong một đàn nào đó cho nên Ngài Thượng Trung Nhựt mới nhắc lại nội dung này.
 

dong tam

New member
2.3. Quyển Đại Đạo Căn Nguyên của Ngài Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu.

Là một trong những người có tham dự việc đi lập đàn qua từng nhà các môn đệ đầu tiên của Đức Cao Đài vào đêm cuối năm Ất Sửu, khi nhắc lại nội dung và thời điểm buổi lập đàn tại nhà Ngài Lê Văn Trung vào giao thừa Bính Dần, Ngài Bảo Pháp đã ghi lại:

“Tái cầu lại (nhằm 11 giờ khuya, giờ Tý năm Bính Dần)

Thượng Ðế dạy rằng:

“Chư đệ tử nghe: Chiêu buổi trước hứa lời truyền Ðạo cứu vớt chúng sanh, nay phải y lời mà làm chủ dìu dắt cả môn đệ Ta vào đường đạo đức đến buổi chúng nó thành công, chẳng nên tháo trút. Phải thay mặt cho Ta mà dạy dỗ chúng nó.
Trung, Kỳ, Hoài, ba con phải lo thay mặt cho Chiêu đi độ người. Nghe và tuân theo.
Bản, Sang, Giảng, Quí, lo dọn mình đạo đức đặng truyền bá cho chúng sanh. Nghe và tuân theo.
Ðức tập cơ, Hậu tập cơ; sau theo mấy anh đặng độ người. Nghe và tuân theo
”.

Ngài Bảo Pháp kết luận dưới đoạn Thánh Ngôn trên:

“Ấy là lời Thánh giáo đầu tiên. Ấy là kỷ niệm ngày Khai Ðạo mồng một giờ Tý năm Bính Dần vậy.”

Quyển sách này đã được ra mắt vào đầu thập niên 30 của thế kỷ trước vào năm thứ 5 của tuổi Đạo, là một trong những quyển Sử Đạo đầu tiên của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được chính người trong cuộc ghi lại.
 

dong tam

New member
2.4. Còn trong quyển Lịch sử quan phủ Ngô Văn Chiêu của nhóm tác giả Chiêu Minh Tam Thanh; được phát hành trong thập niên 30 sau khi Đức Ngô về chầu Thầy; chư vị cũng có nhắc đến đàn giao thừa này và kết luận:

“Ấy là lời Thánh giáo đầu tiên và là ngày kỷ niệm Khai Đạo Cao Đài về Cơ Phổ Hóa: ngày mùng một năm Bính Dần giờ Tý vậy." (13 Février 1926)

Ngày dương lịch, chư vị ghi không được chính xác chi tiết như Ngài Nguyễn Trung Hậu.
 

dong tam

New member
3. Từ các văn bản hành chánh đạo

Đến đây, chúng ta thử tìm hiểu về mặt hành chánh đạo chư vị Tiền Khai đã thể hiện Năm Đạo ra sao trong các sớ văn và trong các văn bản hành chánh đạo.

Từ quyển Nhật Ký Hành Đạo của Hiền Tài Nguyễn Văn Hồng, ghi chép lại thứ tự các đạo sự ở Tòa Thánh Tây Ninh trong 10 năm đầu, chúng ta có thể liệt kê được phần lớn các chứng từ hành chánh đạo. Nhân đây, chúng tôi xin trích dẫn một ít để xem năm đạo của vài văn bản hành chánh trong năm Tân Mùi (Tân Vị) 1931 của Toà Thánh Tây Ninh khi chưa có sự phân chia chi phái. Chúng ta thấy tất cả đều ghi "Đệ lục niên" trong suốt cả năm âm lịch như:

3.1. Phúc trình ngày mùng 2 và mùng 3 tháng giêng Tân Vị, về việc mua đất và tạo tác Đền Thánh của Ngài Quyền Đầu Sư Thái Thơ Thanh và bà Chánh Phối Sư Lâm Hương Thanh:

"(...) Chánh ngoạt sơ nhị nhựt, Tân Vị, Khâm Thiên Tổng Quản Tài Chánh, phụng sắc Chưởng Quản Tài Liệu (...)
Quyền Thái Đầu Sư chủ tọa Hội Thánh, quản lý tạo tác Tổ Đình, Thái Thơ Thanh kỉnh bút (...)

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ đệ lục niên, chánh ngoạt sơ tam nhựt, Tân Vị, Nữ Chánh Phối Sư Hương Thanh đề bút
(...)" [a]

3.2. Án Tòa Tam Giáo lần nhì, xử ngày rằm tháng 7 Tân Vị (28 Aout 1931)

3.3. Tờ Tỏ Bày Việc Đạo Cho Hội Nhơn Sanh Nhóm Lần Thứ Nhứt Tại Toà Thánh Tây Ninh, ngày Rằm tháng 10 Tân Vì (24 Novembre 1931) của Chánh Phối Sư Thượng Tương Thanh - Nguyễn Ngọc Tương. Đây là vật chứng lịch sử quan trọng cho thấy Năm Đạo vào ngày Rằm tháng 10 đã được Chức Sắc Tòa Thánh Tây Ninh ghi như thế nào. Từ căn cứ này, cho thấy ngày Rằm tháng 10 Bính Dần (1926) đã là Năm Đạo thứ Nhứt.

3.4. Châu tri Ân Xá, ngày 5 tháng chạp Tân Mùi (le 12 Janvier 1932) [c]

Chúng ta có thể nhận thấy rõ trong suốt cả năm Tân Mùi từ "chánh ngoạt cho đến tháng chạp" tất cả văn bản đều ghi Đệ lục niên. Như vậy, năm đạo sau khi lên tuổi vào đầu năm đã giữ nguyên như thế và không thay đổi vào ngày Khai Tịch Đạo (23/8) cũng như ngày Khai Minh Đại Đạo (15/10).

Qua những chứng cứ lịch sử có được từ Thánh Ngôn Hiệp Tuyển cho đến những lời trình bày trong các bài thuyết đạo hay trong những đầu sách của các nhân chứng lịch sử và vật chứng là các văn bản hành chánh đạo, chúng ta khẳng định ngày Đức Chí Tôn LẬP ĐẠO là mùng 1 Tết Bính Dần – 1926. Ngày này có ý nghĩa đạo lý rất căn bản nhưng vi diệu.
 

dong tam

New member
II. Ý NGHĨA THEO ĐẠO SỐ CỦA DỊCH LÝ

Ngày giờ Đức Cao Đài Tiên Ông phát khởi việc Lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ chứa đựng nhiều điều thú vị về Lý số.

1. Theo Đạo Số biểu trưng Đấng Tạo Hóa

Như chúng ta đã biết, theo triết lý Đại Đạo xuất phát từ cơ bút, có hai con số đã được Thiêng Liêng dùng để biểu thị Đấng Thượng Đế Tạo Hóa là con số 1 và con số 12.

Số 1: con số này đã được tất cả mọi nền văn hóa từ Đông sang Tây đều chấp nhận dùng để biểu thị cho Đấng Tạo Hóa.

Riêng theo Cao Đài giáo, số 1 này được biểu trưng qua hình ảnh một con mắt trái của Thiên Nhãn. Ý nghĩa số 1 đã được Thầy giải thích:

“Thầy lược giải huyền vi số Một,
Một vốn là trụ cột Càn Khôn;
Một sanh Thái Cực Chí Tôn,
Một là nhứt quán vĩnh tồn trường sanh.
Một là vốn diệu linh tấn hóa,
Một mà sanh tất cả muôn loài;
Khắp trong võ trụ rộng dài,
Đều do một Đạo, cao dày hóa sanh
.”

Số 12: đã được một vài nền văn hóa sử dụng để diễn đạt sự biến dịch của Tạo Hóa như Trung Hoa cổ qua khái niệm về Thập Nhị Thời Thần hay Trung Đông cổ đại qua Kinh Thánh Cựu Ước.

Nhưng chỉ riêng đến Tam Kỳ Phổ Độ qua Thánh giáo Cao Đài, con số 12 mới được khẳng định đây là con số riêng của Đấng Tạo Hóa!

Thánh Ngôn Hiệp Tuyển có ghi lời của Thầy trong bài dạy về cách bái lạy:

“Thập nhị Khai Thiên là Thầy, Chúa cả Càn Khôn Thế Giái, nắm trọn Thập nhị thời Thần vào tay. Số mười hai là số riêng của Thầy.”

Trong bái lạy; duy nhất với Đức Chí Tôn; các tín đồ Cao Đài lạy 12 lần được đơn giản hóa thành 3 lạy, mỗi lạy 4 gật.
Cũng vì thế nên mỗi tín hữu Cao Đài phải cố gắng độ dẫn ít nhứt 12 người mới.

Về sau số 12 được Thánh giáo giải thích thêm theo Dịch số:

“Trần Hưng Đạo (…) Bát Quái Đài mái tầng ba cao hơn một chút nữa hoặc biểu hiệu đặt từng chót phải cao lên cho đúng số 12 kể từ mặt nền, vì tượng trưng cho cơ lập Đạo phải căn cứ vào thành số khi kiến lập xong vũ trụ.”

Qua những dẫn chứng trên cho thấy hai con số 1 và số 12 thể hiện tính âm dương của ngôi Thượng Đế. Một con số “Dương sinh” và một số “Âm thành”.
 

dong tam

New member
Từ đây khi xem xét thời điểm Đức Cao Đài Giáo Chủ Khai Lập Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, vào giờ Tý tháng giêng Bính Dần nhưng lại vào cuối ngày 12.02.1926, chúng ta thấy Lý Đạo số đã được thể hiện trọn vẹn vào thời điểm được chọn theo Thiên cơ:

▪ Theo âm lịch, giờ Tý tượng trưng cho số 1 trong 12 con giáp thuộc về quẻ Phục nhưng đồng thời, thời điểm giao thừa này cũng đã bước sang ngày mùng 1 tháng giêng Bính Dần.

Như vậy ở thời điểm đàn giao thừa này cả 3 yếu tố về giờ ngày tháng đều thể hiện số 1.

Tháng giêng (tháng Dần), năm Bính Dần lại cùng ở vị trí thứ 3 trong 12 con giáp.

Chúng ta thấy có hai con số 1 và số 3 hiện diện ở thời điểm này. Theo Dịch lý, số lẻ là số dương. Nếu tính theo âm lịch lại chứa các con số dương.

▪ Còn theo dương lịch là ngày 12 tháng 2 năm 1926.

Theo Dịch lý, số chẳn là số âm. Nếu tính theo dương lịch các con số của ngày, tháng, năm tất cả đều là số âm.

▪ Như vậy theo Lý của Tứ Tượng; trong âm có dương và trong dương có âm; thời điểm giao thừa giờ Tý tháng giêng Bính Dần ngày 12.02.1926 Lý Đạo âm dương đã thể hiện.
 

dong tam

New member
2. Các con số tượng trưng theo Đạo số

Tín hữu Cao Đài chúng ta học Thánh Ngôn, tin theo lời dạy nhưng nếu được ai đó trong các đạo hữu hỏi căn cứ vào đâu mà số 12 được xem là số riêng của Đấng Tạo Hóa thì quả thật khó có câu trả lời đủ sức thuyết phục! Vì như chính Thầy đã nói:

“Còn lạy Thầy mười hai lạy là tại sao? Các con không biết đâu?”

Phải 45 năm sau, trong một đàn cơ giải thích Dịch Lý ở Tam Tông Miếu thuộc Minh Lý Đạo, Đức Thánh Trần đã cung cấp cho chúng ta lời giải con số 12 từ đâu mà ra:

“Trần Hưng Đạo (...)
Hồng Phạm Cửu Trù là một Hiến chương tu thân xử thế gồm 9 loại, một qui luật trị nước an dân cao cả dựa theo Lạc thơ mà chia thành 3 nguơn 9 số:

Thượng nguơn là phần Trời, gồm 3 số: 1,4,7
Trung nguơn về ba thân của Hoàng Cực, cũng 3 số: 2,5,8
Hạ nguơn là phần vạn dân nhơn loại, có những số: 3,6,9

Số của Trời: 1 + 4 + 7 = 12; tự thân người: 2 + 5 + 8 = 15; quần dân bá tánh gồm những số: 3 + 6 + 9 = 18
.”

Từ nội dung bài Thánh giáo trên khi chúng ta sử dụng để lý giải sử kiện giao thừa Bính Dần thì thấy:

▪ Nếu chỉ lấy riêng ngày dương lịch, chúng ta có số 12.

▪ Còn nếu lấy ngày và tháng dương lịch 12.02 cộng lại chúng ta được con số 5.
. Theo Dịch lý, số 5 hay 15 đều là Trung Ương Mồ Kỷ Thổ tượng trưng cho Hoàng Cực.
. Ngày mùng 1 đầu năm âm lịch, theo Phật giáo là ngày kỷ niệm Đức Di Lạc Phật Vương. Theo tiên tri của Đức Phật Thích Ca, Đức Di Lạc sẽ chủ trì Long Hoa Hội. Còn theo Thánh giáo Cao Đài, Đức Di Lạc sẽ làm Hoàng Cực Chủ Nhân Ông chủ trì Đệ Tam Long Hoa Hội.

▪ Và nếu lấy riêng năm 1926 cộng lại chúng ta được số 18.
Như vậy các con số, ngày tháng năm của thời điểm nhận lệnh Đức Chí Tôn Lập Đạo, theo dương lịch đã cho chúng ta 3 con số: 12, 5, 18 mang ý nghĩa tương ứng với các số 12, 15 và 18 trong bài Thánh giáo giải thích Đạo số của Đức Thánh Trần.
 

dong tam

New member
III. KẾT LUẬN:

Trong Đạo Sử Xây Bàn quyển 1, Bà Đầu sư Hương Hiếu ghi: “Bà Cửu Thiên Huyền Nữ giáng mách bảo rằng: Mùng 1 nầy tam vị Đạo Hữu Vọng Thiên Cầu Đạo.

Và ghi chú ở footnot:
Ngày Vọng Thiên cầu Đạo là sắp vô đề mở Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Các Đấng dìu dắt ba ông lần lần, nghĩa là ba ông mới nhập trường Đạo.”

▪ Từ phát biểu của những nhân chứng sống cùng sự kiện như Quyền Giáo Tông Thượng Trung Nhựt người đứng đầu Cửu Trùng Đài và Bảo Pháp Hiệp Thiên Đài – Nguyễn Trung Hậu, bà Đầu Sư Hương Hiếu giúp cho hậu thế có những chứng cứ vững chắc để xác định sự kiện nào thật sự mang ý nghĩa là ngày Khai Đạo mang ý nghĩa LẬP ĐẠO của Đức Chí Tôn.

▪ Số 1 và số 12 là 2 con số thể hiện tính âm dương của ngôi Thái Cực. Ý nghĩa Đạo số của hai con số này theo Dịch Lý được Ơn Trên giải thích qua cơ bút thời Tam Kỳ Phổ Độ đã giúp cho chúng ta thêm một lần lý giải nữa, minh chứng được thời điểm Thầy Lập Đạo hoàn toàn trùng khớp với Đạo số cơ Thiên! Giao thừa Bính Dần, về âm lịch là ngày mùng 1 nhưng đó lại là ngày 12 của dương lịch. Các số này trong mối quan hệ với âm và dương lịch, ẩn chứa lý âm dương biến dịch biểu thị cả ba yếu tố Trời, Hoàng Cực và Vạn Dân. Hay nói cách khác khi Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ra đời thực hiện đại ân xá, chỉ đường cho Vạn Dân trở lại quê xưa qua ngõ Hoàng Cực mà quy nhứt cùng Trời.
Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ được lập thành sau khi 2 nhóm vô vi và phổ độ hợp tác với nhau. Lý âm dương thể hiện rõ. Từ đây chúng ta thấy “Tâm vật bình hành” là nguyên lý căn bản cho mọi quy tắc tổ chức và ứng xử trong Cao Đài.

▪ Và lời Thánh Ngôn, Thánh Giáo của Thầy giúp chúng ta có thêm một chứng cứ vững chắc từ góc độ đức tin.

Xác minh được thời điểm của sự kiện lịch sử trọng đại ngày Thầy Lập Đạo, chúng ta:

. lấy lại giá trị lịch sử vốn có của nó.

. đồng thời hàng năm vào lúc giao thừa, các Thánh sở Cao Đài đều thiết lễ và sẽ có ý thức tái lập Kỷ Niệm sự kiện trọng đại này, thời điểm đón nhận ân ban của Đức Chí Tôn vạch mở con đường Đại Đạo cho vạn linh sanh chúng trở lại cố hương kịp trước khi đại chu kỳ Tam Nguơn chuyển thế kết thúc.

. và gần nhất là vào lúc kỷ niệm 100 năm Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ ra đời thực hiện cơ cứu độ, chúng ta sẽ thống nhất ghi và nói Năm Đạo 101 cho suốt thời gian của năm Bính Ngọ 2026 luôn cho cả 3 sự kiện lịch sử liên quan mật thiết đến việc Khai Đạo Cao Đài là: Lập Đạo, Khai Tịch Đạo và Khai Minh Đại Đạo.
 

dong tam

New member
80 năm truyền đạo Cao Đài ra đất Bắc.

Bài viết có sử dụng tài liệu phổ biến trên internet của
Thừa Sử Lê Quang Tấn và đạo hữu Tạ Thành Giáo.

I. DẪN NHẬP
II. TRUYỀN ĐẠO CAO ĐÀI RA ĐẤT BẮC
1. THÁI ĐỘ NHÀ CẦM QUYỀN PHÁP VỚI ĐẠO CAO ĐÀI
1.1. Cái Án Cao Đài
1.2. Kết cục bi thảm của Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier
2. TRUYỀN ĐẠO RA BẮC HÀ
2.1. Thiên ý ươm mầm Cao Đài về đất Bắc
2.2. Khai ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ tại Bắc Hà. (1 tháng 3 Giáp Tuất)
2.3. Đại Đạo được Khai Minh khôi phục văn hóa của đất nghìn năm văn vật
2.4. Sự nhiệt tình hành đạo của các Chức sắc người Pháp tại Hà Nội
3. TRUYỀN BÁ ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ ĐẾN HẢI PHÒNG
4. CÁC CHI PHÁI CAO ĐÀI RA TRUYỀN GIÁO BẮC VIỆT (Hà Nội)
Đạo trưởng Huệ Lương hành đạo tại Bắc Việt (1948-1951)
III. SƠ KẾT
 

dong tam

New member
I. DẪN NHẬP

Đêm LỄ THÁNH THẤT - Khai Minh Đại Đạo, sau khi đã thực hiện xong các nghi thức “lễ bái mạng” ra mắt Hội Thánh ĐĐTKPĐ, trong đàn tái cầu vào giờ Tý ngày Rằm tháng 10 Bính Dần (1926) Đức Chí Tôn giáng dạy:

“Tái cầu:
“Thầy các con. Trang ra mời chư Thiên phong lục tỉnh còn sót lại vào hầu.(…)
Thầy cần dùng ba chục đứa tình nguyện đi phổ cáo xứ xa. Ai đâu?
Lấy tên, con Tương. Trung kỳ, Bắc kỳ. (… ghi tên 7 vị xung phong)
Cười, thôi con Tương.
Cả thảy Thầy phong chức Giáo Hữu. Đem đến sau. Thầy buộc học hết Thánh Ngôn rồi mới đi phổ cáo nghe à
.(…)”

Tuy nhiên, việc đưa Đạo Cao Đài ra miền Bắc phải chờ thêm một thời gian để hội đủ các điều kiện về Thiên thời, địa lợi và nhân hòa mới có thể thực hiện được.
 

dong tam

New member
II. TRUYỀN ĐẠO CAO ĐÀI RA ĐẤT BẮC

1. THÁI ĐỘ NHÀ CẦM QUYỀN PHÁP VỚI ĐẠO CAO ĐÀI

- “Năm 1925, Alexandre Varenne sang nhậm chức, và là một Toàn quyền có ý thức nhân đạo. Một trong các hành động nhân đạo tiêu biểu đó là ông cho chích ngừa dịch tả, cải cách các trường học, ân xá cho Phan Bội Châu vừa bị tuyên án tử hình.

Lập các viện Dân biểu Bắc kỳ và Trung kỳ, mở rộng ngạch tương đương (cadres latérants) trong các công sở cho người Việt có bằng cấp tương đương có quyền nắm giữ các chức vụ tương đương với người Pháp, và thành lập Bình dân Nông phố Ngân quỹ để cho giúp nông dân.

Chính sách của ông bị một số người Pháp phản đối dữ dội, và Varenne bị gọi về Pháp năm 1928
.”
[Phan Khang, Việt Nam Pháp Thuộc Sử, Ban Việt Sử, ĐH Văn Khoa, Sàigòn, 1961, tr.422.]

- Toàn quyền Pierre Pasquier là Xử lý Toàn quyền khi Toàn quyền Varenne về Pháp (04.10.1926 – 16.5.1927) khi chư vị Tiền Khai đăng ký pháp nhân ĐĐTKPĐ với nhà cầm quyền Pháp. (07.10.1926)

Sau khi ông Aristide Eugène Le Fol Quyền Thống đốc Nam kỳ tiếp nhận việc khai trình việc hoạt động của Cao Đài giáo, Pasquier đã thuyên chuyển công tác ông Le Fol.(19.4.1926 – 30.12.1926).

Pasquier chánh thức làm Toàn quyền từ (26.12.1928- 15.01.1934)
 

dong tam

New member
1.1. Cái Án Cao Đài

Thiết tưởng từ năm 1926 cho đến năm 1932 tại miền Bắc chưa hề nghe danh Đạo Cao Đài hoặc nhìn thấy bóng vị Chức sắc Cao Đài với bộ Đạo phục màu trắng đi hành Đạo khắp các tỉnh như ở miền Nam nhưng đột nhiên tại Hà Nội lại thấy xuất hiện một cuốn sách với tựa đề “Án Cao Đài” do nhà Hán học Đào Trinh Nhất là tác giả.

Sách xuất bản mà không thấy ghi danh nhà xuất bản, gây nhiều hoang mang cho đồng bào Bắc Hà.

Bị thực dân Pháp mua chuộc ông Trinh Nhất đã bẻ cong ngòi bút, không ngần ngại đưa ra những luận điệu xuyên tạc vu khống Chức sắc Cao Đài Toà thánh Tây ninh (bởi ông Nhất có ở Toà thánh Tây Ninh một thời gian khi được thuê dịch kinh sách Cao Đài ra Hán Văn).

Khi quyển Án Cao Đài xuất hiện vào cuối năm 1932, đồng bào miền Bắc nhận được một quái thai nhằm bôi lọ Đạo Cao Đài tại miền Nam. Vì thực dân Pháp đã được biết Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh chuẩn bị thuyên bổ chức sắc Truyền giáo tại Hà Nội vào đầu năm 1933, nhằm gây hoang mang cho đồng bào Bắc Hà. Nhưng với ngôn ngữ hạ cấp, quyển Án Cao Đài không có đọc giả, thậm chí phải gửi tặng không cho đồng bào gói đồ chứ không có mấy ai buồn đọc.

Ngày nay, ai cũng dễ đoán đó là bàn tay của ai.
 

dong tam

New member
1.2. Kết cục bi thảm của Toàn quyền Đông Dương Pierre Pasquier

Năm 1933, Pasquier nguỵ tạo tài liệu vu khống Đạo Cao Đài mưu đồ quốc sự chống Pháp. Bí mật gom góp một số tài liệu giả tạo gọi là liên hệ chính trị Pasquier mang về Pháp, dự tính trình lên Chánh phủ và Quốc hội Pháp để được cho phép cấm đoán Đạo Cao Đài truyền bá, bắt giam chức sắc và giải tán Đạo Cao Đài.

Với mưu đồ thâm độc triệt hạ Đạo Cao Đài, Pasquier đã bị kết thúc cuộc đời trên đường trở về Pháp trong chiếc phi cơ Éméraude, có vợ chồng Toàn quyền Pasquier, tự nhiên bị nổ và rơi vào ống khói một nhà máy kỷ nghệ thuộc làng Corbigny, cách thủ đô Paris 150 cây số về phía nam nước Pháp.

Cả vợ chồng Toàn quyền Pasquier bị chết cháy trên phi cơ (ngày 15-01-1934), không một ai còn sống sót trên chuyến bay này. Số tài liệu ngụỵ tạo chụp mũ Đạo Cao Đài do Pasquier mang theo cũng hoàn toàn bị thiêu hủy.

“Bần Đạo nhắc lại một mẫu chuyện thời Pháp thuộc.

Lúc toàn quyền Pasquier sắp định trong ý tưởng sang qua Việt Nam trong một thời gian đôi tháng, sẽ tiêu diệt ngay nền Đại Đạo Cao Đài của Đức Chí Tôn. Với sự trù liệu ấy, tư tưởng quá ác bạo, tức nhiên phải bị thiêu hủy trước sự hành vi, là lúc trở về, toàn cả phi cơ đều bị thiêu hủy vậy
.”
[Đức Pháp Lực Kim Tiên, Thánh Huấn hiệp tuyển 2, Xích Long Minh Đức 05.5.ĐĐ36]
 

dong tam

New member
2. TRUYỀN ĐẠO RA BẮC HÀ

2.1. Thiên ý ươm mầm Cao Đài về đất Bắc

- Từ năm 1930, có ông Bùi Văn Hòa làm công chức Sở bưu điện Hà Nội nhân dịp đi công tác vào Nam đã nhập môn và được thọ phong phẩm Lễ Sanh . Khi trở về Bắc, ông lập Thiên bàn thờ Thánh tượng Thầy tại nhà nơi phố Hàng Bè.

- Năm 1933, Tòa Thánh Tây Ninh lần đầu tiên cử Giáo Hữu Thượng Tuất Thanh, là người gốc Nam Định đã vào Nam lập nghiệp rồi nhập môn và được Thiên phong phẩm Lễ Sanh, ra Hà Nội. Nhưng không may, chỉ sau một thời gian ngắn ông Nguyễn Văn Tuất lâm trọng bệnh và quy liễu!

Ngay sau đó, Tòa Thánh cử tiếp Giáo Hữu Thượng Chữ Thanh (Đặng Trung Chữ) ra. Nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn, Hội Thánh phải chấp thuận cho Giáo Hữu Chữ trở về Nam vì ông không quen khí hậu nơi đất Bắc!

Cuối năm 1933, Hội Thánh Tây Ninh quyết tâm gieo giống đạo nơi đất Bắc nên cử một đoàn khác ra. Trong tập “Bước thăng trầm của Đạo Cao Đài 21 năm đầu tại Bắc Việt 1933-1954” Lễ Sanh Ngọc Đoan Thanh (Phạm Tài Đoan) đã viết:

“Phái đoàn hùng hậu gồm 4 người: ông Giáo Hữu Thượng Ngoạn Thanh (Nguyễn Văn Ngoạn), Lễ Sanh Thượng Điểm Thanh, Chánh Trị Sự Thạch và Phó Trị Sự Phòng… …

Phái đoàn ngay từ lúc đặt chân ra Bắc đã có sáng kiến bắt liên lạc với Hội Nam Kỳ Tương Tế, trụ sở đặt tại phố Thi Sách, gần khu nhà rượu…

Phái đoàn nói mục đích, mấy ông Mai Văn Biên, Mai Văn Nghĩa, Hồ Trọng Tuấn hưởng ứng liền và xin nhập môn cầu đạo, mặc dù các ông đang là công chức. Một số hội viên khác trong Nam Kỳ Tương Tế cũng noi theo các ông
…”

Các tân tín hữu nhiệt tình hưởng ứng, tìm mướn được một ngôi nhà rất khang trang tại phố Harmand (sau này là Phù Đổng Thiên Vương) gần khu nhà rượu, tạm làm Thánh Thất. Thuê xong căn nhà, toàn cả bỗn đạo nam nữ đồng chung tâm hiệp trí kẻ của, người công trang trí Văn Phòng và Thánh Thất suốt 2 tháng mới chu toàn. Ông Giáo Hữu THƯỢNG NGOẠN THANH lo chỉ dẫn cách thờ phượng trên Thiên Bàn, tập dợt Đồng Nhi đọc kinh, hướng dẫn việc kệ chuông - trống cùng lễ nhạc vô cùng chu đáo chuẩn bị cho ngày...
 

Facebook Comment

Top