Kỷ niệm lần thứ 84 Khai Minh Đại Đạo

dong tam

New member
4. Nội dung cuộc đại lễ:

Đại Lễ đánh dấu ý nghĩa gồm 3 sự kiện quan trọng của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ là: thứ nhứt Khánh thành Thánh thất đầu tiên, thứ hai ra mắt Hội Thánh đầu tiên và thứ ba Đại hội Tam giáo tiếp nhận Pháp Chánh Truyền và soạn thảo Tân Luật.

5. Hai ngày trước Đại Lễ, kế hoạch tổ chức từ chương trình Đại Lễ và Hội cho đến nhân sự phụ trách và thực hiện đều được Đức Chí Tôn trực tiếp hướng dẫn:

Trung, Trang, con mời thiện nam cùng tín nữ đến cầu Đạo ra ngoài. Thầy khuyên chúng nó lên Thánh thất, nơi ấy mở cửa cho cầu Đạo trọn ba tháng thì có ngày giờ nhiều cho tâm thành chúng nó thõa nguyện.

Thầy mắc lo lập Lễ Thánh Thất nghe à
!...”

Trong đoạn Thánh Ngôn trên có 2 chi tiết quan trọng về mặt lịch sử:

- Thời gian cuộc Hội lễ được phép sẽ kéo dài 3 tháng. (đây là chứng cứ quan trọng cho vấn đề Lý Đạo của cuộc lễ sẽ trình bày sau)

- Tên gọi Đại Lễ này được Thầy gọi chánh thức là LỄ THÁNH THẤT. Cần lưu ý đến thời điểm tình hình lịch sử khi đó, danh từ Thánh thất chưa thông dụng trong đạo hữu Cao Đài. Tên gọi này rất lạ tai vì thế cũng rất ấn tượng
.
 

hienhuu

New member
<!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:punctuationKerning/> <w:ValidateAgainstSchemas/> <w:SaveIfXMLInvalid>false</w:SaveIfXMLInvalid> <w:IgnoreMixedContent>false</w:IgnoreMixedContent> <w:AlwaysShowPlaceholderText>false</w:AlwaysShowPlaceholderText> <w:Compatibility> <w:BreakWrappedTables/> <w:SnapToGridInCell/> <w:WrapTextWithPunct/> <w:UseAsianBreakRules/> <w:DontGrowAutofit/> </w:Compatibility> <w:BrowserLevel>MicrosoftInternetExplorer4</w:BrowserLevel> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml> <w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156"> </w:LatentStyles> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 10]> <style> /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} </style> <![endif]--> Như vậy là đêm 14 rạng Rằm tháng Mười năm Bính-Dần là Ngày Khai Đao để ra mắt nhân loại nên phải làm Đại-Lễ gọi là Lễ Khánh Thành Thánh-Thất tức cũng khai Thánh Thất lần đầu tiên mà Đại-Hội Tam Giáo để Thầy ban Pháp Chánh Truyền và tiến hành soạn thảo Tân Luật của Đ Đ T K P Đ./.
 

dong tam

New member
II. DIỄN TIẾN ĐẠI “LỄ THÁNH THẤT,,

Như thế “Lễ Thánh thất” đã được Đức Chí Tôn đích thân chỉ dẫn từng chi tiết và đã trở thành một Lễ Hội trọng thể.

Phần Lễ chánh thức ra mắt tân tôn giáo Cao Đài trước nhơn sanh, đã được long trọng tổ chức trong ba ngày theo như lời sắp đặt của Thầy trong đàn đêm 13 tháng 10.

Còn phần Hội, đã diễn ra trong suốt ba tháng như lời dạy trước đó của Thầy trong đàn đêm 12 tháng 10.

Về phần Lễ bắt đầu từ đêm 14 tháng 10. Diễn tiến của đêm Lễ chánh đã diễn ra như sau:

1. Tối ngày 14, sau khi thực hiện tụng kinh hành lễ xong, chư vị lập đàn theo lệnh dạy. Khi vừa nhập đàn Thầy đã rầy:

Ngọc Hoàng Thượng Đế viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương

(…) Hành lễ bất nghiêm. Xuất ngoại nhơn, con Trang.(…)

Nữ phái nghe Thầy lập Tịch (…). Lâm Thị phong nữ Giáo Sư lấy Thiên ân là Hương Thanh, Ca Thị phong vi Phó Giáo Sư lấy Thiên ân là Hương Ca, Đường Thị đã thọ Thiên sắc ấy cứ giữ địa vị mình …

Thầy ban ơn cho các con, cứ hành lễ theo lời dặn
.”

Ngay khi khởi đầu hành lễ đã có quá đông người đến dự. Nhiều người không có phận sự cũng vào được chánh điện để xem lễ! Nhiều đến mức Thầy phải dạy Ngài Chánh Phối Sư Ngọc Trang Thanh (chịu trách nhiệm chánh về phần lễ theo sự sắp đặt của Thầy trong đêm 12) phải “xuất ngoại nhơn”!

Và Thầy cũng chưa Thiên phong cho quý vị ở lục tỉnh như đã hứa đêm qua mà chỉ mới ban ân Chức Sắc cho ba vị nữ để đại diện Nữ phái trong Lễ Lập Vị ra mắt Hội Thánh.
(còn tiếp)
 

dong tam

New member
2. Trong khi Lễ Lập Vị đang được tiến hành thì xảy ra sự cố, có hai vị tuổi thanh niên, phái nam là ông Lê Thế Vĩnh còn nữ là Cô Vương Thanh Chi bị tà nhập nhảy múa như lên đồng trong chánh điện xưng là Tề Thiên Đại Thánh và Quan Âm Bồ Tát.

Sau đó chư vị lập đàn thứ hai lúc Tý thời rạng ngày Rằm tháng 10, Đức Chí Tôn giáng đàn nói ngay:

Tái cầu:

Cả chư môn đệ đều ngu, ngu, ngu!

Thầy lập phép để làm chi? Thầy dạy sắp đặt lễ, chẳng một điều làm trúng phép. (…)

Thái Đầu Sư đâu? Tương đâu? (…) Chẳng lẽ một địa vị Thiên tước mà rẻ rúng vậy! Nhưng mà các con lại đặng hiểu rõ tà quái có quyền hành là bực nào mà giữ mình hằng buổi.

Thầy lấy làm tức cười mà lại đau thảm cho những kẻ vô phước bị ngã vì tại bận thử thất nầy.

Tái cầu khi Trang, Tương, Minh đến nghe à.

Cư, con có lỗi trong sự ấy hiểu à.(…)”
[Thánh Ngôn chép tay Thái Thơ Thanh tờ 194 B và tờ 195 A]

Như thế Lễ Lập Vị chưa thành vì có phần chi tiết về nghi lễ chưa thực hiện hoàn toàn đúng theo “phép” Thầy đã dạy nên đã có ảnh hưởng đến sự chưa thành công của việc Hội Thánh ra mắt nhơn sanh!

Trong đàn thứ 2 này Thầy hỏi “Thái Đầu Sư đâu? Tương đâu?”. Và Thầy dạy tiếp: “Tái cầu khi Trang, Tương, Minh đến nghe à ”. Hai chi tiết này cho thấy sau lễ Lập Vị thất bại vì sự cố tà thần quấy phá, lúc đó khi lập đàn tái cầu đã không có đủ mặt chư vị Đại Thiên Phong.

Vậy khi đó các vị này ở đâu? Chư vị đang cố gắng ổn định tư tưởng thân nhân và sắp xếp lại nội bộ gia đình quyến thuộc đang bị chao đảo.

3. Khi đã có mặt đủ ba ông Trang Tương Minh, bộ phận thông công lại tái cầu lập đàn lần thứ ba để nghe Thầy dạy lại:

Tái cầu 2: 15/10 BD

“(...) Thầy dặn Lịch nghe dạy, phải trấn đàn tứ phía góc Thánh thất chớ chẳng phải nội ở giữa mà thôi, rồi làm đại lễ như buổi tại chùa Vĩnh Nguyên. Nhớ đừng phát cờ lộn nữa nghe! Bỡi tại con nên ra đến đỗi! Hiểu à. Thầy dặn con một điều nầy nữa. Từ đây khá làm theo lời Thầy dạy đừng biến cãi nghe. Nghe à (...)

Thầy buộc tái cầu đặng Thiên phong nghe à. Thầy ngự
.” [Thánh Ngôn chép tay Thái Thơ Thanh tờ 195 B]

(còn tiếp)
 

dong tam

New member
4. Sau đó Lễ Lập Vị được thực hiện lại và hoàn tất vào lúc quá nửa đêm, chư vị tái cầu lần cuối (lần thứ 4) để đón nhận việc ban ân Thiên Phong như Thầy đã dặn.

Tái cầu:

Thầy các con,

Trang ra mời chư Thiên phong lục tỉnh còn sót lại vào hầu.(…) Tính Thầy phong chức Giáo Sư, Nhơn đã là Giáo Hữu thầy thăng lên chức Giáo Sư (…)

Thầy dạy các con nhớ ngày nay là ngày kỷ niệm. Trung con phải lấy tên họ của các môn đệ có mặt tại đây ngày nay mà giữ gìn để lưu lại cho hậu thế biết nghe à.

Thầy cần dùng ba chục đứa tình nguyện đi phổ cáo xứ xa. Ai đâu? Lấy tên, con Tương. Trung kỳ, Bắc kỳ.

{Hồ v Đình, Nguyễn Minh Đức, Trần v Nhạc, Phạm v Thông, Huỳnh Trung Tuất, Dương v Hoài, Nguyễn v Thiện.} (7 vị)

(…) Cười, thôi con Tương. Cả thảy Thầy phong chức Giáo Hữu. Đem đến sau. Thầy buộc học hết Thánh Ngôn rồi mới đi phổ cáo nghe à.(…)

Đêm nay các con phải thành tâm cầu nguyện đặng ngày mai Thầy lập Pháp Chánh Truyền nghe à.

Thầy không phong sắc cho ai hết đặng phạt tội ngã lòng
.”

5. Qua đêm sau vào giờ Tý rạng 16 tháng 10 Đức Chí Tôn ban cho Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nam phái.
 

dong tam

New member
II. BÀI HỌC KHAI MINH

1. Về tên gọi cuộc Đại Lễ:


▪ Khởi đầu vào giữa tháng 8, Đức Chí Tôn dùng từ “Đại hội… Tam Giáo” khi nói đến mục đích của cuộc lễ.

▪ Những ngày cận cuộc lễ sẽ diễn ra, khi dạy sắp đặt nhân sự và chương trình hành lễ, Thầy chính thức dùng tên là Lễ Thánh Thất”.

▪ Theo thời gian trôi qua những tên gọi này đã bị lãng quên và biến đỗi thành nhiều tên gọi khác. Nơi Tòa Thánh Tây Ninh dùng tên Lễ kỷ niệm “Hoằng Khai Đại Đạo”, còn một số Hội Thánh khác gọi là Lễ kỷ niệm “Khai Đạo”.

▪ Đến năm 1970, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc vâng lệnh Đức Chí Tôn và thay mặt các Đấng Tiền Khai ban danh từ chánh thức là “Khai Minh Đại Đạo” cho sự kiện Rằm tháng 10 và danh từ “Khai Tịch Đạo” cho sự kiện 23 tháng 8.
 

dong tam

New member
2. Về ý nghĩa và nhiệm vụ Sứ mạng:

- Lễ hội Khai Minh Đại Đạo đã diễn ra trong ba tháng từ ngày Lễ Hạ Ngươn Bính Dần cho đến ngày Lễ Thượng Ngươn Đinh Mão, khoảng thời gian này là hình tượng mang đến thông điệp có ý nghĩa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mở ra con đường sáng chỉ dẫn nhơn sanh vượt qua thời kỳ Hạ Ngươn với những đêm đen lạnh lùng u tối để tiến đến giai đoạn Thượng Ngươn Thánh Đức là những ngày Xuân tươi sáng ấm áp.

- Nhưng để có thể vượt qua đêm dài tăm tối ấy, mọi người Cao Đài cần phải học thuộc và hiểu rõ bài học để thi hành nhiệm vụ:

a. Với các tín hữu,

a 1. Phải luôn ý thức hành lễ nghiêm trang trong các cuộc lễ.

a 2. Bài học sự cố tà quái nhập trong buổi lễ nhắc chúng ta:

. Phải luôn đặt trọn lòng tin nơi Đức Chí Tôn và Đại Đạo.

. Phải luôn ghi nhớ lời Thầy:“Các con lại đặng hiểu rõ tà quái có quyền hành là bực nào mà giữ mình hằng buổi.” để ý thức rằng “Đạo khai tà khởi”, trong thời Hạ Ngươn Mạt Kiếp này lực lượng tà quái luôn hiện diện quấy phá thử thách người tu.

a 3. Lễ Khai Minh Đại Đạo đã khởi đầu từ Thủy Quan Giải Ách cho đến Thiên Quan Tứ Phước.

Lễ kéo dài 3 tháng đầu từ Lễ Hạ Nguơn Bính Dần và chấm dứt vào Lễ Thượng Nguơn Đinh Mão.

Nếu viết theo cách viết quẻ Dịch thì chữ Thủy được viết trước ở dưới, sau đó chữ Thiên viết lên trên. Đọc từ trên xuống dưới theo cách đọc quẻ kép chúng ta có quẻ đôi là Thiên Thủy Tụng.

Khai Minh Đại Đạo, Cao Đài Giáo chính thức ra mắt nhơn sanh. Cao Đài nói theo ngôn ngữ Dịch học là thời kỳ Thiên Thủy tụng vì như lời Đức Lý Thái Bạch đã dạy:

Kỳ này lập Đạo tá danh là Cao Đài, là cái triệu chứng để lại muôn đời roi truyền trong Việt Nam, mà cũng là ngày năm châu loạn lạc, đao binh nổi dậy khắp nơi!

Chúng sanh khá nhớ: CAO vi CÀN; CÀN vi THIÊN.
ĐÀI vi KHẢM, KHẢM vi THỦY
.

Tức là quẻ “Thiên Thủy tụng” thì chạy đâu cho khỏi số Trời định đoạt binh lửa bốn phương? Những kẻ thiếu tu, đành cam số phận. Cười, cười
!…” [Đức Lý Thái Bạch, Đảo Phú Quốc 15.8 Ất Sửu 1925]

Vậy làm thế nào để vượt qua thời kỳ luôn có “tranh tụng” giữa thiên nhiên và nguồn sống của chúng sinh đồng thời lại có thêm thử thách của lực lượng tà quái?

Chỉ còn cách duy nhất là phải luôn cố gắng nghiêm chỉnh làm theo những lời dạy của Thầy và các Đấng Thiêng Liêng. Nhưng có học mới biết và hiểu để làm cho đúng. Vậy những ai sẽ hướng dẫn chỉ đường dẫn lối? Chính là chư vị Chức sắc.

(còn tiếp)
 

hienhuu

New member
<!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:punctuationKerning/> <w:ValidateAgainstSchemas/> <w:SaveIfXMLInvalid>false</w:SaveIfXMLInvalid> <w:IgnoreMixedContent>false</w:IgnoreMixedContent> <w:AlwaysShowPlaceholderText>false</w:AlwaysShowPlaceholderText> <w:Compatibility> <w:BreakWrappedTables/> <w:SnapToGridInCell/> <w:WrapTextWithPunct/> <w:UseAsianBreakRules/> <w:DontGrowAutofit/> </w:Compatibility> <w:BrowserLevel>MicrosoftInternetExplorer4</w:BrowserLevel> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml> <w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156"> </w:LatentStyles> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 10]> <style> /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} </style> <![endif]--> Theo hh hiểu Cao-Đài là cái Đài Cao như:
“ CAO như bắc khuyết NHƠN chiêm ngưỡng,
ĐÀI tại nam phương ĐẠO thống truyền.”
Là nơi của Đấng Tối Cao, Đấng Cao Đài, Đấng Ngọc Hoàng Thượng Đế giáo Đạo Nam Phương. với Danh hiệu mới là Cao-Đài Tiên-Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát mang tính chất Đại Đồng qui hiệp như: Cao-Đài chỉ về Nho-Giáo tức Thánh, Thần, và Nhơn-Đạo
Còn Tiên Ông là chỉ về Tiên Giáo tức Tiên Đạo
Và Đại Bồ Tát Ma Ha Tát là chỉ về Phật Giáo tức Phật-Đạo.
Đạo Cao-Đài là Đạo Háo Sanh, là Đạo Thương-Yêu kỳ truyền tới Thất Ức Niên nên không thể nói là nó thuộc quẻ Thiên Tủy Tụng thì không hợp lý Đạo.
Chẳng lẽ Cao-Đài tức Thiên Thủy Tụng là binh lửa chiến tranh hoài tới Thất Ức Niên ??? thì như vậy là không đúng.
Tất cả Tôn Giáo mở ra đều mang lại tốt lành Thương Yêu để chế phục sự giết chóc binh lửa của con người do mê muội gây ra. Nhưng kỳ truyền của các Tôn-Giáo nhứt kỳ và nhị kỳ đã thất kỳ truyền cho nên Tam kỳ phổ độ tức kỳ truyền lần thứ ba xuất hiện để Đại Đồng qui hiệp lại Cao-Đài tức Đ Đ T K P Đ cũng lấy tánh Đức Thương Yêu mà hóa giải khối trược ác./.
 

dong tam

New member
b. Với các Chức sắc,

Lời dặn “Thầy buộc học hết Thánh Ngôn rồi mới đi phổ cáo nghe à.” và chi tiết trong đêm đại lễ ấy, các chức sắc nam nữ được Thiên phong đều thuộc phẩm Giáo Hữu và Giáo Sư. Điều này có ẩn ý gì không?

Theo Pháp Chánh Truyền được Thầy ban vào đêm sau rạng 16 tháng 10, nội dung với sứ mạng “phổ thông Chơn Đạo” của Giáo Hữu và “dạy dỗ chư tín đồ trong đường Đạo và đường đời” của Giáo Sư, để thực hiện trách nhiệm pháp lệnh này người chức sắc cần phải nổ lực tự khai sáng bản thân, sau đó sẽ góp phần khai sáng cho nhơn sanh.

Huynh hienhuu hãy đọc lại và suy gẫm thêm thì thấm lý của Thiên Thủy tụng ngay thôi !. :18:
 

dong tam

New member
Trong mùa Kỷ Niệm Khai Minh Đại Đạo lần thứ 84 này, chúng ta đồng thời cũng kỷ niệm tròn 30 năm Đầu Sư Ngọc Quế Thanh đăng Tiên

Hy vọng anh chị em thuộc Hội Thánh Truyền Giáo sẽ có những bài viết cảm nhận ân đức của Chủ Trưởng Hội Thánh, bài học nào có được qua cuộc đời hoạt động "Đạo đời tương đắc" của Ngài
 

xx-3T-xx

New member
Khai minh? Đầu Sư Ngọc Quế Thanh? :39:

Chắc hẳn chúng ta nên tra cứu nghĩa của từ "Khai minh" này. Dùng từ Khai minh chưa thuyết phục lắm đối với phần đông tín đồ mà đặc biệt đối với Cao Đài Ban Chỉnh Đạo và Cao Đài Tòa Thánh Tây Ninh.

Thử ngẫm nghĩ lại 2 Hội Thánh lớn này không dùng từ này trong kỷ niệm khai Đạo hằng năm, nguyên nhân? Có lẽ từ Khai minh này chưa thích hợp. Vừa rồi có đọc được 1 bài viết trên trang Chơn pháp giải nghĩa 2 từ này rất hay và cách dùng từ Khai minh này hoàn toàn không đúng. Chỉ một số Hội Thánh Chi phái dùng từ này.

Ngài Huệ Lương Trần Văn Quế thọ phẩm Đầu Sư? Nên xem lại để có cái nhìn chính xác hơn!
 

dong tam

New member
Theo Thánh Ngôn và Thánh giáo Cao Đài

Chúng ta tu học hành đạo dẫn dắt nhơn sanh đi trong thời Hạ Ngươn Mạt Kiếp này tiếng sang đời Thượng Ngươn Thánh Đức.

Dĩ nhiên ai đũ đầy công đức thì sẽ nhập vào cõi Thiêng Liêng hằng sống, ai có phứoc đức nhiều nhưng công đức ít thì chuyển vào đời Thượng Ngươn thánh đức

Trong thời HNMK thì tất nhiên phải luôn đối diện với "Thiên thủy tụng" nhưng khi đến khi bước sang đời Thánh Đức thì không còn Thiên Thủy tụng nữa.

"Một cuộc chuyển luân buổi cuối cùng" thời gian này còn khoảng 500 - 600 năm sẽ đến giai đoạn Thánh đức. Hội Hợi là ngươn hội cuối của chu kỳ 12 con giáp kéo dài 10.800 năm. TNHT Thầy nói "Nhơn loại đã nhiễm tà mị hơn mười ngàn năm" vì thế mới làm bài toán trừ để còn lại 800 năm. Trước khi DTKPD xuất hiện, Thầy cũng nói "Hơn 60 năm trước thấy Thầy đại nộ, chư Phật Tiên xin giáng trần cứu độ ..." . Như thế đến nay đã gần 200 năm do đó chúng ta mới ước đoán còn 500 hay 600 năm nữa sẽ là đời Thánh Đức.

Đây chính là việc Thượng Đế "khai minh" cho con người hiểu Lý Đạo diễn ra như thế. Con ngừoi phải tự khai minh cho mình con đường nào phù hợp nhứt với mình để tìm lại quê xưa.
 

hienhuu

New member
<!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:punctuationKerning/> <w:ValidateAgainstSchemas/> <w:SaveIfXMLInvalid>false</w:SaveIfXMLInvalid> <w:IgnoreMixedContent>false</w:IgnoreMixedContent> <w:AlwaysShowPlaceholderText>false</w:AlwaysShowPlaceholderText> <w:Compatibility> <w:BreakWrappedTables/> <w:SnapToGridInCell/> <w:WrapTextWithPunct/> <w:UseAsianBreakRules/> <w:DontGrowAutofit/> </w:Compatibility> <w:BrowserLevel>MicrosoftInternetExplorer4</w:BrowserLevel> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml> <w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156"> </w:LatentStyles> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 10]> <style> /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} </style> <![endif]--> Đời Hạ Ngươn Mạt Kiếp thì thời gian rút ngắn chạy nước rút. Khi Trời Khai-Đạo vào những Năm Giáp Tý, Ất Sửu, Bính-Dần ( !924, 1925, 1926 ) thì ta biết là Thầy sắp chuyển qua Thánh-Đức không còn phải chờ lâu đâu mà đợi 800 năm nữa !?
Thầy đã cho Phạm Hộ-Pháp biết là khi Giáp ba con Chuột lại là Đạo Thành. Cho nên Đức Phạm Hộ-Pháp mới tin lời Chí-Tôn mà nói đến năm Tý mở Hội Long Hoa mấy em rán làm cho kịp nếu Qua có qui liễu trước thì mấy em cũng phải làm cho kịp nếu không được vậy thì là lỗi đó thuộc về mấy em chớ không phải về Qua.
Ta lại Thấy rằng Tam Thánh Ký Hòa Ước để trước mắt nhơn sanh qua hình tượng, thì đủ hiểu rằng Đức Trạng Trình rất quan trọng đối với nền Đạo Cao Đài.
Ngài biết trước trên 500 trăm sau thế nào cũng có Đạo Trời mở Thánh Đức.
Thì Đức Ngài có nói rằng:
Năm GIÁP-TÝ vẻ KHUÊ ĐÃ RẠNG
Lộ Ngũ TINH, trinh tượng thái hanh
Ơn trên vũ khí vân hành
Kẻ thờ ký túy , người canh XUÂN ĐÀI (đời Thánh-Đức)
Bản đồ chẳng sót một ai
Nghìn năm lại thấy mọi nơi vẹn toàn.
Vậy Giáp ba con Chuột là gì ?
Là Năm Trung Nguơn Giáp-Tý Sao Cơ (1924 ) = 1 con
Là Năm Hạ Nguơn Giáp-Tý Sao Hư ( 1984 ) = 1 con
Là Năm Thượng Nguơn Giáp-Tý Sao Khuê ( 2044 ) = 1 con
Vậy đến 2044 là Năm Thượng Ngươn Giáp-Tý sao Khuê là đã Giáp đủ 3 con Chuột đó vậy. Và sẽ Hội-Long Hoa tại Tòa-Thánh Tây-Ninh nếu không kịp là lỗi của chúng ta chớ không phải là lỗi của Hộ-Pháp.
Nếu không kịp thì phải chờ đến 1260 năm nữa ( tính từ 2044 trở đi ) tức = Năm 3304 thì mới đáo đầu lại Thượng Ngươn Giáp-Tý Sao Khuê mà Đức Trạng Trình đã nói./.
 

hienhuu

New member
<!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:punctuationKerning/> <w:ValidateAgainstSchemas/> <w:SaveIfXMLInvalid>false</w:SaveIfXMLInvalid> <w:IgnoreMixedContent>false</w:IgnoreMixedContent> <w:AlwaysShowPlaceholderText>false</w:AlwaysShowPlaceholderText> <w:Compatibility> <w:BreakWrappedTables/> <w:SnapToGridInCell/> <w:WrapTextWithPunct/> <w:UseAsianBreakRules/> <w:DontGrowAutofit/> </w:Compatibility> <w:BrowserLevel>MicrosoftInternetExplorer4</w:BrowserLevel> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml> <w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156"> </w:LatentStyles> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 10]> <style> /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} </style> <![endif]--> Thầy đã nói nhơn loại đã nhiễm tà mị hơn 10 ngàn năm thì ta biết chắc rằng chưa tới 11 ngàn ?
Thí dụ: 10. 682 năm thì cũng chưa tới 11.000 năm
Nếu lấy mốc năm 1926 Bính-Dần thầy đã nói hơn 10 ngàn năm bị nhiễm tức có thể cũng là 10.682 năm tức chưa tới 11 ngàn năm.
Vậy ta thử lấy 10.800 năm – 10.682 năm = 118 năm
Vậy năm Bính-Dần 1926 + 118 năm = năm 2044 Thượng Ngươn Giáp-Tý Sao Khuê.
Vậy Đức Trạng Trình nói: Giáp-Tý Sao Khuê…mọi nơi vẹn toàn.
Thầy nói: Giáp 3 con Chuột là Đạo Thành.
Đức Phạm Hộ-Pháp nói : đến năm Tý Hội-Long Hoa tại Tòa-Thánh biểu mình rán làm cho kịp. (đây chỉ là 1 cách tính toán trong nhiều cách tính )./.
 

dong tam

New member
Xin huynh cho biết các con số 10.682 năm hay 1260 xuất xứ từ đâu

Kính hỏi để học
 

hienhuu

New member
<!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:punctuationKerning/> <w:ValidateAgainstSchemas/> <w:SaveIfXMLInvalid>false</w:SaveIfXMLInvalid> <w:IgnoreMixedContent>false</w:IgnoreMixedContent> <w:AlwaysShowPlaceholderText>false</w:AlwaysShowPlaceholderText> <w:Compatibility> <w:BreakWrappedTables/> <w:SnapToGridInCell/> <w:WrapTextWithPunct/> <w:UseAsianBreakRules/> <w:DontGrowAutofit/> </w:Compatibility> <w:BrowserLevel>MicrosoftInternetExplorer4</w:BrowserLevel> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml> <w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156"> </w:LatentStyles> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 10]> <style> /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} </style> <![endif]--> Ta phải học cách trí huệ của Đức Trạng Trình để đoán !
Thí dụ như: Đức Trạng Trình khi biết được quẻ Sắt ngắn Gổ dài thì người học trò nói là có người mượn cây cuốc. Thì Đức Trạng lại nói nó mượn cây Búa chẻ củi nấu bánh tét vì còn có mấy ngày nữa là tới Tết thì mượn cuốc để làm gì !?
Quả nhiên có người mượn búa chẻ củi nấu bánh tét…
Cũng như Thầy cho biết trên mười ngàn năm lại còn cho biết Giáp 3 con Chuột và Đức Phạm Hộ-Pháp lại nói năm Tý Và Sấm Trạng Trình cho biết Giáp Tý Sao Khuê thì mình lấy lịch ra xem thì thấy 2044 là Giáp Tý Sao Khuê.
Ngay chổ Tịnh Tâm Đài có Đức Trạng Trình thì mình phải nhớ đến lời dạy tiên tri của Ngài.
Vào trong lòng Đền-Thánh thì lại thấy 28 cột Rồng tượng trưng cho Nhị Thập Bát Tinh Tú và trong 28 vì tinh tú thì có Sao Khuê Mộc Lang ( Chó Sói ) mà Đức Trạng Tình có cho biết năm Giáp-Tý mà sao Khuê.
Vậy ta tra lịch vạn niên coi Giáp Tý Sao Khuê là nhằm vào năm 2044 mà lại Thượng Ngươn thì quá tốt rồi tức là năm 2044 là năm Thượng Ngươn Giáp-Tý Sao Khuê.
1 ngươn nhỏ là 60 năm
Mà 7 ngươn nhỏ là 420 năm gọi là Thất Ngươn Cầm = 1 ngươn Lớn.
Mà 3 ngươn Lớn = 420 năm x 3 = 1260 năm thì nó đáo đầu lại tất cả giống như :
2044 là Thượng Ngươn Giáp-Tý Sao Khuê thì cung phi là Nam Khảm, Nữ Cấn, Cung Ký thì Nam, Nữ là Chấn và lịch làm cũng thế.
Thì muốn nó trở lại toàn bộ giống y như thế là phải cộng thêm 1260 năm nữa thì nó mới giống y tất cả mà nhà làm lịch đã làm.
Tức là 2044 là Thượng Ngươn Giáp Tý Sao Khuê thì năm 3304 cũng là Thượng Ngươn Giáp Tý Sao Khuê giống y như trên…
Còn nói về làm sao biết 10.682 là do mình dùng trí huệ để tính toán những cái mà ra quẻ của Ơn trên cho biết đó như là hơn 10 ngàn năm tức cho phép dưới 11 ngàn năm.
hiệp với cái mà Huynh DT đã cho biết là 10. 800 năm là Thánh Đức thì mình dùng trí huệ mà toán ra cộng trừ bằng cách là lấy năm Giáp Tý 2044 – 1926 Bính Dần = 118 năm thì mình lấy 10.800 – 118 thì = 10.682 thì nó cũng lớn hơn 10 ngàn như là Thầy cho biết nó là thế. Và kết hợp lại hết tất cả thì nó vẫn phù hợp cộng với tình hình thế giới thiên tai, địa ách, nhơn hại = song thần, bão lụt, núi lửa, thiên thạch, chiến tranh giặc giả hăm he từng giờ thì đã cận lắm rồi đó vậy./.
 

Trung ngôn

Active member
Chúc mừng toàn thể quý thành viên tín hữu Cao Đài là thành viên DD TTDD nhân kỷ niệm lần thứ 84 Khai minh Đại đạo (chỉ còn hơn 24 giờ nữa).
Trân trọng chức mừng.
 

xx-3T-xx

New member
Bài viết của vị vodanhdaohuu:

Hằng năm vào ngày 15/10 al, Hội Thánh tổ chức Đại Lễ Kỷ Niệm Ngày Khai Đạo, vì việc này đã được Hội Thánh thông qua từ thuở ban sơ , nên chúng ta có thể khẳng định một cách dứt khoát rằng : ngày 15/10 âm lịch hằng năm là Ngày Khai Đạo hay ngày Hoằng Khai Đại Đạo .

Còn nói rằng là "Khai Minh Đại Đạo" là do chi phái xưng gọi làm sai pháp chánh, vì sao Vodanh dám nói rằng chi phái là sai Pháp Chánh . Chúng ta nên nhớ rằng, chi phái dù xét theo khía cạnh nào đi nữa nhưng khi nói một cách "Công Chánh" thì chúng ta phải hoàn toàn tuân thủ theo Luật Đạo. Mà hễ đã tuân theo luật Đạo thì nhất nhất tuân y Bát Đạo Nghị Định .

Hễ ai làm lợi cho nhơn sánh chúng ta hãy cuối đầu thán phục họ nhưng khi họ không tuân Pháp Chánh, sữa cải chơn truyền thì Nhơn Sanh phải định quyết là Bàn Môn . Vậy thử hỏi tại sao chi phái không thích dùng từ Ngày Khai Đạo hay Hoằng Khai Đại Đạo? Chẳng những thế Chi Phái còn đưa ra lập luận nào là Ngày Khai Minh, Ngày Khai Tịch theo ý của chi phái mình ..v..v..
Chúng ta thử nghĩ nếu muốn tách riêng mà bê nguyên bổn, đỗ nguyên khuôn thì kỳ quá, xem sao được nên phải thêm vào, rồi thì bớt ra cho khác khác chứ y mẫu vậy thì đâu có cái gì riêng tư đây? Vậy cả thảy chúng ta thử xem lại quá trình tách ra chi phái từ ban sơ có thể sẽ thấy rõ hơn .

Chúng ta xét đồng thời theo mốc thời gian và chi phái ra đời đầu tiên đến chi phái cuối cùng thì có thể rõ rằng . Chi phái nào ra đời sau cùng nhất thì chi phái đó càng có nhiều điểm giống cái Gốc nhất .

Ví dụ:
- Một số chi phái đầu tiên , không có Thờ Đức Phật Mẫu , Kinh Cúng không đầy đủ . (Chưa xin được Kinh Tận Độ)
- Một số chi phái sau rốt thì có Thờ Đức Phật Mẫu (Một số ít có Điện Thờ Phật Mẫu) , Kinh sách thì gần giống nhất (thời điểm này đã xin được Kinh Tận Độ)
- Còn 1 dạng "chi phái kết hợp" cả trước và sau kết hợp của nhiều chi phái để hình thành 1 dạng chi phái .

Sau hết, đã nói là chi phái rồi thì không nên bàn luận nhiều, vì ai cũng có cái lương tri lương năng để xét đoán, trừ khi chi phái xuyên tạc giáo lý căn bản của Đạo Cao Đài hoặc xúc phạm Chức Sắc thì cũng nên để lời với họ. Còn chi phái có làm điều chi lợi ích cho nhơn sanh thì chúng ta cũng phải thán phục họ, thế chẳng khác nào tôn giáo bạn họ cũng giáo dân quy thiện .

Vậy chúng ta hãy cũng nhau tìm hiểu rõ thêm về đề tài Ngày Khai Đạo nhằm hiểu rõ thêm về nguồn gốc của buổi lễ vậy .

Kính
 

dong tam

New member
DO BẬN ĐẠO SỰ TRONG 2 NGÀY 14 VÀ 15/10 NÊN TÔI GỞI PHẦN ĐẦU BÀI VIẾT ĐỂ ACE THAM KHẢO

Tìm hiểu danh từ KHAI MINH ĐẠI ĐẠO

Ngày 12 tháng 10 Bính Dần, khi bổ nhiệm nhân sự và lập chương trình chuẩn bị cho cuộc đại lễ Khánh thành Thánh thất đầu tiên và ra mắt nhân sanh của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn đã dùng tên gọi là “Lễ Thánh Thất”.

Trung, Trang, con mời thiện nam cùng tín nữ đến cầu Đạo ra ngoài. Thầy khuyên chúng nó lên Thánh thất, ... Thầy mắc lo lập Lễ Thánh thất nghe à!...” [Thánh Ngôn chép tay – Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh tờ 187a đàn ngày 12.10 BD (16 Novembre 1926)]

Tuy nhiên những năm sau đó do bề bộn việc khai phá rừng và xây dựng Thánh Địa Tây Ninh nên quý tiền bối chỉ có tổ chức kỷ niệm cuộc lễ này được một lần vào năm 1929 với ý nghĩa là ngày Hoằng Khai Đại Đạo.

Mấy mươi năm sau, khi cơ đạo đã ỗn định, những buổi lễ kỷ niệm cho cả hai sự kiện 23-8 và Rằm tháng 10 đều được gọi chung một tên là “ngày Khai Đạo”. Điều này dẫn đến việc làm cho bổn đạo hiểu chưa được chính xác lịch sử Đại Đạo!

Để giúp cho nhơn sanh phân biệt được và hiểu đúng ý nghĩa của những ngày lịch sử quan trọng này, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã vâng lệnh Thầy thay mặt chư vị Tiền Khai Đại Đạo giải thích và ân ban tên Khai Tịch Đạo cho ngày 23 tháng 8 và tên Khai Minh Đại Đạo cho sự kiện Rằm tháng 10.

I. NGUỒN GỐC DANH TỪ “KHAI MINH ĐẠI ĐẠO

Cụm từ “khai minh” được tìm thấy xuất hiện lần đầu tiên trong thư tịch Cao Đài nơi bài trường thi của Đức Chí Tôn giáng cơ ngày 17 Septembre 1926 dạy cho quý bà Trần phu nhơn và Lâm thị ái nữ: “Thâu tăng chúng khai minh đường đạo hạnh.”

Còn danh từ “Khai Minh Đại Đạo” cũng được Ơn Trên sử dụng từ lâu. Cụm từ này, có thể lần đầu tiên được xuất hiện vào những năm 1928-1929 như trong bài Chánh Giáo Thánh Truyền của Đức Chí Tôn qua câu “Long Hoa hội khai minh Đại Đạo” hay câu cuối bài kinh dâng trà của Hội Thánh Tây Ninh: “Khai Minh Đại Đạo hộ thanh bường

Bẳng đi một thời gian dài, cụm từ Khai Minh Đại Đạo không thấy được nhắc lại trong Thánh giáo của các Hội Thánh.

Ba mươi năm sau đó, vào năm 1959 Đức Tam Trấn Quan Thánh Đế Quân đã nêu lại cụm từ này trong một đàn cơ tại Thánh Thất Tân Định thuộc Hội Thánh Tam Quan ở quận 1 Sài Gòn, như sau:

Đấng cao cả là Thầy chủ tể,
Thấy đời tàn khó thể ngồi yên;
Thế nên giáng hạ trần miền,
Khai Minh Đại Đạo gieo truyền lòng thương
.”

Cho đến năm 1965, chúng ta thấy cụm từ này lại tái xuất hiện qua lời dạy của Đức Mẹ tại Hườn Cung Đàn, quận 4 Sài Gòn.

Ngày mới Khai Minh Đại Đạo, những tiên tri đã có, cơ tiền định đã được hé mở đôi phần, nhưng chúng sanh không … lưu ý, vì đương hưởng cảnh an cư, mấy ai nghĩ đến cơ cuộc sẽ diễn biến và diễn biến như ngày nay.”

Tuy nhiên danh từ này được Ơn Trên chính thức đặt để, được dùng làm tên gọi để kỷ niệm ngày Rằm tháng 10 một lễ trọng hàng năm từ khi nào?

Tý thời ngày 23 tháng 8 năm Canh Tuất (22.9.1970) tại Nam Thành Thánh Thất, trong lễ kỷ niệm hàng năm của nơi nầy về một ngày lịch sử trọng đại khác cũng đã diễn ra trong năm Bính Dần 1926, qua ban Hiệp Thiên Đài của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc giáng đàn với hình thức “song điển” nơi ban cơ Độc đồng vừa xuất khẩu và vừa viết cho vị độc giả đọc.

Ngày Hai Mươi Ba tháng Tám là ngày Khai Tịch Đạo trên bình diện pháp lý Thế Đạo. Ngày lễ hôm nay đã đánh dấu một ngày trước đây đã đi vào lịch sử của văn minh nhơn loại, một chứng nhân của cuộc đời, một xác định của văn kiện thế gian đã ghi nhận. Chính giờ phút ấy, một động lực thúc đẩy tiến đến công cuộc hoằng khai Đại Đạo, Rằm tháng Mười … Ngày 23 tháng Tám. Ngày này là ngày Khai Tịch Đạo để mọi người trong tâm thành chí thiện, ý thức kết hợp thành một khối, để chuẩn bị đủ dữ kiện cho ngày Rằm tháng Mười, Khai Minh Đại Đạo trước nhân loài, trước quốc tế.

Hai việc làm, hai thời kỳ có hai tác dụng. Một là hướng ngoại để xem thấy cuộc đời là đau thương khổ lụy hầu tìm phương cứu độ; một hướng nội để biết mục đích căn bản của Đạo và cứu cánh của Đạo để liệu sức mình hầu thị hiện cho có kết quả
.”

Đây là lần đầu tiên, Ơn Trên đã ban cho hai danh từ và giải thích để giúp tín hữu Cao Đài phân biệt ý nghĩa của ngày Khai Tịch Đạo và ngày Khai Minh Đại Đạo!

Tuy nhiên sự việc còn quá mới mẻ, cho nên mãi đến ba năm sau: ngày Rằm tháng 10 Quý Sửu 1973, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý mới thiết lễ kỷ niệm Khai Minh Đại Đạo lần đầu tiên. Trong đàn cơ hôm đó Đức Giáo Tông và Đức Chí Tôn đã dạy:

Giáo Tông Đại Đạo Thái Bạch Kim Tinh, Bần Đạo chào chư Thiên ân hướng đạo, mừng chư hiền đệ hiền muội. Hôm nay là ngày Khai Minh Đại Đạo. Điều mà chư đệ muội vui mừng hơn hết là kỷ niệm ngày Thượng Đế khai đạo tại Việt Nam, và cũng vui mừng ngày Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý thiết lễ Khai Minh Đại Đạo đầu tiên. Đức Thượng Đế sẽ giá lâm ban ơn cho chư hiền đệ hiền muội trong đàn này (…)

Ngọc Hoàng Thượng Đế Kim Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương. Thầy các con, Thầy mừng các con.

Ngày Khai Minh Đại Đạo, Thầy đến ban ơn cho các con lớn nhỏ, dầu nơi đây không phải là Tòa Thánh, Hội Thánh, nhưng tâm chí thành và sứ mạng hòa hiệp của các con là Cao Đài, là Bạch Ngọc Kinh để Thầy ngự như buổi sơ khai. Thầy miễn lễ các con đồng an tọa nghe Thầy dạy đây:

Con thiết lễ Khai Minh Đại Đạo,
Thầy giáng lâm chỉ giáo chơn cơ;
Bấy lâu luống những đợi chờ,
Chờ con cất gánh đồ thơ qui về
… …”

Kể từ đó danh từ Khai Minh Đại Đạo dần dần được phổ biến. Bốn mươi năm qua, danh từ này đã dần dần trở nên quen thuộc với nhiều tầng lớp tín hữu Cao Đài thuộc mọi Hội Thánh.

II. Ý NGHĨA KHAI MINH ĐẠI ĐẠO VỀ PHƯƠNG DIỆN LỊCH SỬ hình thành Cao Đài Giáo:

Một cách nhìn tổng quát, với cơ Phổ Độ của Đại Đạo Tam Kỳ, nếu chúng ta lấy năm Bính Dần (1926) làm “Thời Kỳ Khai Nguyên Lập Đạo” , trong năm này có 3 cột mốc thời gian quan trọng:

- mùng 1 Tết Bính Dần (12 rạng 13.02.1926)
- 23 tháng 8 Bính Dần (29.9.1926)
- rằm tháng 10 Bính Dần (19.11.1926)

1. Về ngày mồng 1 Tết Bính Dần.

Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có nhắc trong buổi lễ kỷ niệm 2 năm Khai Tịch Đạo (1928):

Tôi xin nhắc lại cho chư Hiền hữu, chư Hiền muội lãm tường: Ðấng Chí Tôn có dạy: Bàn Cổ sơ khai nhơn sanh ư Dần cho nên ngày Ðấng Chí Tôn mở Ðạo là ngày mồng một năm Bính Dần.” [Tiểu Sử Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung]

Liệu chúng ta có chứng cứ nào để không nên tin vào lời sau đây của một vị Tiền Khai khác, Đức Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu. Theo tài liệu trong quyển Đại Đạo Căn Nguyên được xuất bản năm 1930 trang 37, Ngài có ghi như sau:

"2è séance du 12.02.1926 chez Monsieur Lê Văn Trung.
Chư đệ tử nghe. Chiêu buổi trước hứa lời truyền đạo, cứu vớt chúng sanh, nay phải y lời mà làm chủ dìu dắt cả môn đệ ta vào đường đạo đức, đến buổi chúng nó lập thành, chẳng nên thối trút. Phải thay mặt cho Ta mà dạy dỗ chúng nó
... ..."

Đức Bảo Pháp kết luận: "Ấy là lời Thánh Giáo đầu tiên. Ấy là kỷ niệm ngày Khai Đạo mồng một giờ Tý, năm Bính Dần vậy."

Dựa vào các lời dạy của Đức Chí Tôn còn lưu trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển chúng ta gọi tên cho ngày mồng 1 Tết là ngày KHAI LẬP ĐẠO.

2. Về ngày 23 tháng 8 Bính Dần.

Chúng ta sẽ suy nghĩ như thế nào về ý nghĩa tên gọi của ngày 23 tháng 8, nếu được đọc đoạn Thánh giáo sau đây của Đức Chí Tôn tại Nam Thành Thánh thất:

“Cha linh hồn các con. Đấng Ngọc Đế Cao Đài, Thầy giá ngự đàn tiền mừng chung các con nam nữ.
NGỌC báu Thầy trao trẻ hữu công,
HOÀNG khai chứng chiếu tại nơi lòng;
THƯỢNG hòa lễ phục qui tam bửu,
ĐẾ dựng khai cơ pháp hiệp đồng.
GIÁNG tiếp sanh qui tồn tánh mạng,
CẢNH nầy nền tảng lập gia phong;
NAM bang Đại khái gìn chơn thể,
THÀNH vị Đạo Tiên đắc lục thông.

… Nay ngày Lễ Kỷ Niệm Khai Sanh Nền Đại Đạo nơi cảnh Nam Thành, các con nguyên căn cần tầm lấy bổn sơ khai của Đạo giáo bày cho phục vị …”

Khai Tịch Đạo đồng nghĩa với việc “làm khai sanh” hay đăng ký pháp nhân, một năm sau đàn này, được Đức Phạm Hộ Pháp sử dụng là hữu lý.

3. Về ngày Rằm tháng 10 Bính Dần:

Như lời giải thích của Đức Hộ Pháp:

Rằm tháng Mười, Khai Minh Đại Đạo trước nhân loài, trước quốc tế … Sứ mạng cứu thế đã chánh thức trải dài trên đường tối âm u thế sự. Sứ mạng này hiển nhiên huy hoàng và sáng chói đến tận cuối thời gian và không gian.”

Cơ cấu tổ chức Thánh thể Tam Đài của Đức Chí Tôn qua hình tướng thờ phượng nơi Thánh thất đầu tiên và bộ máy tổ chức nhân sự các cấp hành chánh đạo đã căn bản được định hình. Nói một cách khác là hình tướng tôn giáo đã được hình thành để ra mắt nhân sanh, thực thi sứ mạng cứu thế kỳ ba. Cũng từ đó số tín đồ nhanh chóng gia tăng từ vài ngàn người lên đến hơn bốn mươi ngàn chỉ trong vòng 3 tháng với nhiều thành phần dân tộc khác nhau: Việt, Campuchia, Hoa, Pháp…

Chúng ta đang bước vào tháng kỷ niệm Khai Minh Đại Đạo. Việc kỷ niệm, trước hết là ôn lại truyền thống lịch sử của những dấu chân đi trước:

1. Chúng ta có thể mường tượng rằng năm Bính Dần 1926 là thời kỳ “Khai Nguyên Lập Đạo” : Tiến trình của thời kỳ Khai Nguyên này đã diễn ra đúng theo Lý Tam Tài và Dịch số Đạo học như lời Thánh giáo của Đức Đông Phương:

Từ Thái Cực biến Lưỡng Nghi trở thành cái Pháp sanh hóa muôn loài (...) nhớ lại kỷ niệm thời kỳ Khai Nguyên Lập Đạo”:

- Vào ngày mồng 1 Tết, về phần Thiên, Đức Cao Đài ban lệnh Khai Lập Đạo: khởi phát Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Đây là việc của Trời là Thái Cực tức là số 1 và số 12 (12.02.1926). Ngày Thiên thơ ghi dấu sự khởi đầu của nền tân giáo mở cơ đại ân xá kỳ ba.

- Tiếp theo là phần Nhơn, trong quan hệ giữa người với người, mối quan hệ của đạo hữu với chánh quyền qua việc “Pháp lý Thế Đạo” đăng ký sinh hoạt tôn giáo. Sự việc diễn ra qua 2 thời điểm: ngày 23 tháng 8 chư vị tiền bối chuẩn bị văn bản Khai Tịch Đạo và ngày mùng 1 tháng 9 tiến hành việc đi gặp Thống đốc Nam kỳ Le Fol làm giấy đăng ký pháp nhân cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.

Nơi đây, chúng ta thấy sự kiện diễn ra qua 2 mốc thời gian tượng trưng cho lưỡng nghi.

- Và đến ngày rằm tháng 10 khởi đầu cho 3 tháng Khai Minh Đại Đạo, về phần Địa.

Khánh thành Thánh Thất đầu tiên là trụ tướng ban đầu; là địa điểm làm lễ lập vị các Đại Thiên Phong, Hội Thánh chính thức nhận trách nhiệm thực hiện sứ mạng cứu thế kỳ ba; và Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nam phái được Thầy ân ban – nền tảng của luật pháp đạo được hình thành. Ba sự kiện nói lên hình ảnh của con số 3 và đánh dấu sự chuyển luân với Pháp sanh hóa là Pháp Chánh Truyền chánh thức khởi đầu công cuộc hoằng khai Đại Đạo.

Diễn trình Khai Nguyên này đã thể hiện Lý Đạo: 1 sanh 2, 2 sanh 3 và 3 chuyển hóa vào trong đời sống sanh chúng.

Trong tiến trình 3 tháng này có giai đoạn Địa Lôi Phục (tháng 11 Bính Dần - tháng Tý) thể hiện ơn cứu độ Kỳ Ba như Nhứt Dương Sơ Động đưa đường dẫn lối cho nhân loài vượt qua thời kỳ Hạ Ngươn Mạt Kiếp để chuyển vào thời Thánh Đức Thượng Ngươn.(Rằm tháng giêng Đinh Mão)

Vào ngày rằm tháng 10 Mậu Tuất 1958, tại Trung Hưng Bửu Tòa Đà Nẳng, Đức Trần Đạo Quang giáng đàn có nói:

Cũng ngày nầy trên 32 năm về trước trong một góc trời Nam đã xé tan màn u ám bởi một nguồn điển lực từ nơi Trời đến, chói lọi mười phương. Tiếng nói Quyền Pháp bởi cơ hội đã vang động khắp chín từng mây, nhơn vật tỉnh giấc mơ màng, hồn phách được hồi sanh. Nếu không bởi ngày nầy thì cõi Ta Bà cũng mãi triền miên trong ảo mộng.

Nhơn loại bởi ngày này mà phục sinh. Ngày này là ngày nhứt Dương sơ động làm cho khí lạnh hạ dần, ấm áp đã đến, sống động trong muôn loài để khí lực sinh sôi hoạt động
.”

2. Cho đến hôm nay song song tồn tại nhiều tên gọi cho ngày kỷ niệm rằm tháng 10 này. Có nơi dùng từ KHAI ĐẠO, có nơi dùng tên HOẰNG KHAI ĐẠI ĐẠO và nhiều nơi chấp nhận danh từ KHAI MINH ĐẠI ĐẠO. Sự dị biệt về tên gọi này cũng không có gì là quan trọng miễn sao các thế hệ tín hữu Cao Đài có hiểu được ý nghĩa và giá trị của sự kiện Đức Chí Tôn đến Khai Minh Đại Đạo cho con người và những sự kiện ghi dấu truyền thống hào hùng của chư vị tiền bối từ chức sắc đến tín đồ đã vượt qua bao thử thách trong những ngày đầu gian nan ấy.

Đành rằng người tiếp nối đi sau, dĩ nhiên bổn phận là nhắc nhở tôn thờ. Điều quan trọng để nhớ ơn và thể hiện tinh thần, người tiếp nối phải làm thế nào để người ra đi không hờn tủi vì chưa ai biết đến cái kỳ vọng để đạt đến tiêu đề thâm diệu của tâm hồn mình qua những việc đã làm lúc hiện tiền. Đó mới chính là bổn phận của những ai đi sau.

Nhắc lại một lần nữa ở đây, hiểu hết toàn diện các sự kiện đã trải qua, tôn thờ sự kiện ấy, truyền bá và tiếp nối, mới là ý nghĩa của mỗi khi làm lễ kỷ niệm nào. Và đừng nghĩ là dịp lễ bái, dịp trưng bày của một phạm vi nào mà lu mờ chánh pháp của Đại Đạo
.”

Vì thế, quan trọng hơn hết là những tín hữu Cao Đài chúng ta có thực hiện được phần nào sứ mạng phải làm “tỏa sáng ánh linh quang” của Thượng Đế đến với nhân loài thể hiện ý nghĩa của tinh thần Khai Minh Đại Đạo hay không.
 

hienhuu

New member
<!--[if gte mso 9]><xml> <w:WordDocument> <w:View>Normal</w:View> <w:Zoom>0</w:Zoom> <w:punctuationKerning/> <w:ValidateAgainstSchemas/> <w:SaveIfXMLInvalid>false</w:SaveIfXMLInvalid> <w:IgnoreMixedContent>false</w:IgnoreMixedContent> <w:AlwaysShowPlaceholderText>false</w:AlwaysShowPlaceholderText> <w:Compatibility> <w:BreakWrappedTables/> <w:SnapToGridInCell/> <w:WrapTextWithPunct/> <w:UseAsianBreakRules/> <w:DontGrowAutofit/> </w:Compatibility> <w:BrowserLevel>MicrosoftInternetExplorer4</w:BrowserLevel> </w:WordDocument> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 9]><xml> <w:LatentStyles DefLockedState="false" LatentStyleCount="156"> </w:LatentStyles> </xml><![endif]--><!--[if gte mso 10]> <style> /* Style Definitions */ table.MsoNormalTable {mso-style-name:"Table Normal"; mso-tstyle-rowband-size:0; mso-tstyle-colband-size:0; mso-style-noshow:yes; mso-style-parent:""; mso-padding-alt:0cm 5.4pt 0cm 5.4pt; mso-para-margin:0cm; mso-para-margin-bottom:.0001pt; mso-pagination:widow-orphan; font-size:10.0pt; font-family:"Times New Roman"; mso-ansi-language:#0400; mso-fareast-language:#0400; mso-bidi-language:#0400;} </style> <![endif]--> Huynh DT khai minh vấn đề trên là bổn phận được lắm !
vậy Ta hiểu ngắn gọn rằng Rằm Tháng Mười năm Bính-Dần là Ngày Chí-Tôn đến
Khai-Đạo ban Pháp Chánh Truyền và dạy Lập Tân-Luật.
Tuy là làm Lễ Kỷ Niệm Ngày Khai-Đạo nhưng đó là Tín Đồ đã Khai Minh mối Đạo Trời không cần phải viết chữ Khai Minh thì Nhân-Loại sớm hay muộn cũng tìm đến giống như cây hoa hướng Dương lúc nào cũng tìm đến ánh sáng Dương Quang Mặt Trời.
Còn Khai-Minh Đại Đạo chính là bổn phận của Tín-Đồ. Như Huynh DT đã dẫn :

Vì thế, quan trọng hơn hết là những tín hữu Cao Đài chúng ta có thực hiện được phần nào sứ mạng phải làm “tỏa sáng ánh linh quang” của Thượng Đế đến với nhân loài thể hiện ý nghĩa của tinh thần Khai Minh Đại Đạo hay không.
 

Facebook Comment

Top