DO BẬN ĐẠO SỰ TRONG 2 NGÀY 14 VÀ 15/10 NÊN TÔI GỞI PHẦN ĐẦU BÀI VIẾT ĐỂ ACE THAM KHẢO
Tìm hiểu danh từ KHAI MINH ĐẠI ĐẠO
Ngày 12 tháng 10 Bính Dần, khi bổ nhiệm nhân sự và lập chương trình chuẩn bị cho cuộc đại lễ Khánh thành Thánh thất đầu tiên và ra mắt nhân sanh của Hội Thánh Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn đã dùng tên gọi là “Lễ Thánh Thất”.
“Trung, Trang, con mời thiện nam cùng tín nữ đến cầu Đạo ra ngoài. Thầy khuyên chúng nó lên Thánh thất, ... Thầy mắc lo lập Lễ Thánh thất nghe à!...” [Thánh Ngôn chép tay – Chánh Phối Sư Thái Thơ Thanh tờ 187a đàn ngày 12.10 BD (16 Novembre 1926)]
Tuy nhiên những năm sau đó do bề bộn việc khai phá rừng và xây dựng Thánh Địa Tây Ninh nên quý tiền bối chỉ có tổ chức kỷ niệm cuộc lễ này được một lần vào năm 1929 với ý nghĩa là ngày Hoằng Khai Đại Đạo.
Mấy mươi năm sau, khi cơ đạo đã ỗn định, những buổi lễ kỷ niệm cho cả hai sự kiện 23-8 và Rằm tháng 10 đều được gọi chung một tên là “ngày Khai Đạo”. Điều này dẫn đến việc làm cho bổn đạo hiểu chưa được chính xác lịch sử Đại Đạo!
Để giúp cho nhơn sanh phân biệt được và hiểu đúng ý nghĩa của những ngày lịch sử quan trọng này, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc đã vâng lệnh Thầy thay mặt chư vị Tiền Khai Đại Đạo giải thích và ân ban tên Khai Tịch Đạo cho ngày 23 tháng 8 và tên Khai Minh Đại Đạo cho sự kiện Rằm tháng 10.
I. NGUỒN GỐC DANH TỪ “KHAI MINH ĐẠI ĐẠO”
Cụm từ “khai minh” được tìm thấy xuất hiện lần đầu tiên trong thư tịch Cao Đài nơi bài trường thi của Đức Chí Tôn giáng cơ ngày 17 Septembre 1926 dạy cho quý bà Trần phu nhơn và Lâm thị ái nữ: “Thâu tăng chúng khai minh đường đạo hạnh.”
Còn danh từ “Khai Minh Đại Đạo” cũng được Ơn Trên sử dụng từ lâu. Cụm từ này, có thể lần đầu tiên được xuất hiện vào những năm 1928-1929 như trong bài Chánh Giáo Thánh Truyền của Đức Chí Tôn qua câu “Long Hoa hội khai minh Đại Đạo” hay câu cuối bài kinh dâng trà của Hội Thánh Tây Ninh: “Khai Minh Đại Đạo hộ thanh bường”
Bẳng đi một thời gian dài, cụm từ Khai Minh Đại Đạo không thấy được nhắc lại trong Thánh giáo của các Hội Thánh.
Ba mươi năm sau đó, vào năm 1959 Đức Tam Trấn Quan Thánh Đế Quân đã nêu lại cụm từ này trong một đàn cơ tại Thánh Thất Tân Định thuộc Hội Thánh Tam Quan ở quận 1 Sài Gòn, như sau:
“Đấng cao cả là Thầy chủ tể,
Thấy đời tàn khó thể ngồi yên;
Thế nên giáng hạ trần miền,
Khai Minh Đại Đạo gieo truyền lòng thương.”
Cho đến năm 1965, chúng ta thấy cụm từ này lại tái xuất hiện qua lời dạy của Đức Mẹ tại Hườn Cung Đàn, quận 4 Sài Gòn.
“Ngày mới Khai Minh Đại Đạo, những tiên tri đã có, cơ tiền định đã được hé mở đôi phần, nhưng chúng sanh không … lưu ý, vì đương hưởng cảnh an cư, mấy ai nghĩ đến cơ cuộc sẽ diễn biến và diễn biến như ngày nay.”
Tuy nhiên danh từ này được Ơn Trên chính thức đặt để, được dùng làm tên gọi để kỷ niệm ngày Rằm tháng 10 một lễ trọng hàng năm từ khi nào?
Tý thời ngày 23 tháng 8 năm Canh Tuất (22.9.1970) tại Nam Thành Thánh Thất, trong lễ kỷ niệm hàng năm của nơi nầy về một ngày lịch sử trọng đại khác cũng đã diễn ra trong năm Bính Dần 1926, qua ban Hiệp Thiên Đài của Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý, Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc giáng đàn với hình thức “song điển” nơi ban cơ Độc đồng vừa xuất khẩu và vừa viết cho vị độc giả đọc.
“Ngày Hai Mươi Ba tháng Tám là ngày Khai Tịch Đạo trên bình diện pháp lý Thế Đạo. Ngày lễ hôm nay đã đánh dấu một ngày trước đây đã đi vào lịch sử của văn minh nhơn loại, một chứng nhân của cuộc đời, một xác định của văn kiện thế gian đã ghi nhận. Chính giờ phút ấy, một động lực thúc đẩy tiến đến công cuộc hoằng khai Đại Đạo, Rằm tháng Mười … Ngày 23 tháng Tám. Ngày này là ngày Khai Tịch Đạo để mọi người trong tâm thành chí thiện, ý thức kết hợp thành một khối, để chuẩn bị đủ dữ kiện cho ngày Rằm tháng Mười, Khai Minh Đại Đạo trước nhân loài, trước quốc tế.
Hai việc làm, hai thời kỳ có hai tác dụng. Một là hướng ngoại để xem thấy cuộc đời là đau thương khổ lụy hầu tìm phương cứu độ; một hướng nội để biết mục đích căn bản của Đạo và cứu cánh của Đạo để liệu sức mình hầu thị hiện cho có kết quả.”
Đây là lần đầu tiên, Ơn Trên đã ban cho hai danh từ và giải thích để giúp tín hữu Cao Đài phân biệt ý nghĩa của ngày Khai Tịch Đạo và ngày Khai Minh Đại Đạo!
Tuy nhiên sự việc còn quá mới mẻ, cho nên mãi đến ba năm sau: ngày Rằm tháng 10 Quý Sửu 1973, Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý mới thiết lễ kỷ niệm Khai Minh Đại Đạo lần đầu tiên. Trong đàn cơ hôm đó Đức Giáo Tông và Đức Chí Tôn đã dạy:
“Giáo Tông Đại Đạo Thái Bạch Kim Tinh, Bần Đạo chào chư Thiên ân hướng đạo, mừng chư hiền đệ hiền muội. Hôm nay là ngày Khai Minh Đại Đạo. Điều mà chư đệ muội vui mừng hơn hết là kỷ niệm ngày Thượng Đế khai đạo tại Việt Nam, và cũng vui mừng ngày Cơ Quan Phổ Thông Giáo Lý thiết lễ Khai Minh Đại Đạo đầu tiên. Đức Thượng Đế sẽ giá lâm ban ơn cho chư hiền đệ hiền muội trong đàn này (…)
Ngọc Hoàng Thượng Đế Kim Viết Cao Đài Giáo Đạo Nam Phương. Thầy các con, Thầy mừng các con.
Ngày Khai Minh Đại Đạo, Thầy đến ban ơn cho các con lớn nhỏ, dầu nơi đây không phải là Tòa Thánh, Hội Thánh, nhưng tâm chí thành và sứ mạng hòa hiệp của các con là Cao Đài, là Bạch Ngọc Kinh để Thầy ngự như buổi sơ khai. Thầy miễn lễ các con đồng an tọa nghe Thầy dạy đây:
Con thiết lễ Khai Minh Đại Đạo,
Thầy giáng lâm chỉ giáo chơn cơ;
Bấy lâu luống những đợi chờ,
Chờ con cất gánh đồ thơ qui về … …”
Kể từ đó danh từ Khai Minh Đại Đạo dần dần được phổ biến. Bốn mươi năm qua, danh từ này đã dần dần trở nên quen thuộc với nhiều tầng lớp tín hữu Cao Đài thuộc mọi Hội Thánh.
II. Ý NGHĨA KHAI MINH ĐẠI ĐẠO VỀ PHƯƠNG DIỆN LỊCH SỬ hình thành Cao Đài Giáo:
Một cách nhìn tổng quát, với cơ Phổ Độ của Đại Đạo Tam Kỳ, nếu chúng ta lấy năm Bính Dần (1926) làm “Thời Kỳ Khai Nguyên Lập Đạo” , trong năm này có 3 cột mốc thời gian quan trọng:
- mùng 1 Tết Bính Dần (12 rạng 13.02.1926)
- 23 tháng 8 Bính Dần (29.9.1926)
- rằm tháng 10 Bính Dần (19.11.1926)
1. Về ngày mồng 1 Tết Bính Dần.
Ngài Đầu Sư Thượng Trung Nhựt có nhắc trong buổi lễ kỷ niệm 2 năm Khai Tịch Đạo (1928):
“Tôi xin nhắc lại cho chư Hiền hữu, chư Hiền muội lãm tường: Ðấng Chí Tôn có dạy: Bàn Cổ sơ khai nhơn sanh ư Dần cho nên ngày Ðấng Chí Tôn mở Ðạo là ngày mồng một năm Bính Dần.” [Tiểu Sử Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung]
Liệu chúng ta có chứng cứ nào để không nên tin vào lời sau đây của một vị Tiền Khai khác, Đức Bảo Pháp Nguyễn Trung Hậu. Theo tài liệu trong quyển Đại Đạo Căn Nguyên được xuất bản năm 1930 trang 37, Ngài có ghi như sau:
"2è séance du 12.02.1926 chez Monsieur Lê Văn Trung.
Chư đệ tử nghe. Chiêu buổi trước hứa lời truyền đạo, cứu vớt chúng sanh, nay phải y lời mà làm chủ dìu dắt cả môn đệ ta vào đường đạo đức, đến buổi chúng nó lập thành, chẳng nên thối trút. Phải thay mặt cho Ta mà dạy dỗ chúng nó ... ..."
Đức Bảo Pháp kết luận: "Ấy là lời Thánh Giáo đầu tiên. Ấy là kỷ niệm ngày Khai Đạo mồng một giờ Tý, năm Bính Dần vậy."
Dựa vào các lời dạy của Đức Chí Tôn còn lưu trong Thánh Ngôn Hiệp Tuyển chúng ta gọi tên cho ngày mồng 1 Tết là ngày KHAI LẬP ĐẠO.
2. Về ngày 23 tháng 8 Bính Dần.
Chúng ta sẽ suy nghĩ như thế nào về ý nghĩa tên gọi của ngày 23 tháng 8, nếu được đọc đoạn Thánh giáo sau đây của Đức Chí Tôn tại Nam Thành Thánh thất:
“Cha linh hồn các con. Đấng Ngọc Đế Cao Đài, Thầy giá ngự đàn tiền mừng chung các con nam nữ.
NGỌC báu Thầy trao trẻ hữu công,
HOÀNG khai chứng chiếu tại nơi lòng;
THƯỢNG hòa lễ phục qui tam bửu,
ĐẾ dựng khai cơ pháp hiệp đồng.
GIÁNG tiếp sanh qui tồn tánh mạng,
CẢNH nầy nền tảng lập gia phong;
NAM bang Đại khái gìn chơn thể,
THÀNH vị Đạo Tiên đắc lục thông.
… Nay ngày Lễ Kỷ Niệm Khai Sanh Nền Đại Đạo nơi cảnh Nam Thành, các con nguyên căn cần tầm lấy bổn sơ khai của Đạo giáo bày cho phục vị …”
Khai Tịch Đạo đồng nghĩa với việc “làm khai sanh” hay đăng ký pháp nhân, một năm sau đàn này, được Đức Phạm Hộ Pháp sử dụng là hữu lý.
3. Về ngày Rằm tháng 10 Bính Dần:
Như lời giải thích của Đức Hộ Pháp:
“Rằm tháng Mười, Khai Minh Đại Đạo trước nhân loài, trước quốc tế … Sứ mạng cứu thế đã chánh thức trải dài trên đường tối âm u thế sự. Sứ mạng này hiển nhiên huy hoàng và sáng chói đến tận cuối thời gian và không gian.”
Cơ cấu tổ chức Thánh thể Tam Đài của Đức Chí Tôn qua hình tướng thờ phượng nơi Thánh thất đầu tiên và bộ máy tổ chức nhân sự các cấp hành chánh đạo đã căn bản được định hình. Nói một cách khác là hình tướng tôn giáo đã được hình thành để ra mắt nhân sanh, thực thi sứ mạng cứu thế kỳ ba. Cũng từ đó số tín đồ nhanh chóng gia tăng từ vài ngàn người lên đến hơn bốn mươi ngàn chỉ trong vòng 3 tháng với nhiều thành phần dân tộc khác nhau: Việt, Campuchia, Hoa, Pháp…
Chúng ta đang bước vào tháng kỷ niệm Khai Minh Đại Đạo. Việc kỷ niệm, trước hết là ôn lại truyền thống lịch sử của những dấu chân đi trước:
1. Chúng ta có thể mường tượng rằng năm Bính Dần 1926 là thời kỳ “Khai Nguyên Lập Đạo” : Tiến trình của thời kỳ Khai Nguyên này đã diễn ra đúng theo Lý Tam Tài và Dịch số Đạo học như lời Thánh giáo của Đức Đông Phương:
“Từ Thái Cực biến Lưỡng Nghi trở thành cái Pháp sanh hóa muôn loài (...) nhớ lại kỷ niệm thời kỳ Khai Nguyên Lập Đạo”:
- Vào ngày mồng 1 Tết, về phần Thiên, Đức Cao Đài ban lệnh Khai Lập Đạo: khởi phát Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ. Đây là việc của Trời là Thái Cực tức là số 1 và số 12 (12.02.1926). Ngày Thiên thơ ghi dấu sự khởi đầu của nền tân giáo mở cơ đại ân xá kỳ ba.
- Tiếp theo là phần Nhơn, trong quan hệ giữa người với người, mối quan hệ của đạo hữu với chánh quyền qua việc “Pháp lý Thế Đạo” đăng ký sinh hoạt tôn giáo. Sự việc diễn ra qua 2 thời điểm: ngày 23 tháng 8 chư vị tiền bối chuẩn bị văn bản Khai Tịch Đạo và ngày mùng 1 tháng 9 tiến hành việc đi gặp Thống đốc Nam kỳ Le Fol làm giấy đăng ký pháp nhân cho Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ.
Nơi đây, chúng ta thấy sự kiện diễn ra qua 2 mốc thời gian tượng trưng cho lưỡng nghi.
- Và đến ngày rằm tháng 10 khởi đầu cho 3 tháng Khai Minh Đại Đạo, về phần Địa.
Khánh thành Thánh Thất đầu tiên là trụ tướng ban đầu; là địa điểm làm lễ lập vị các Đại Thiên Phong, Hội Thánh chính thức nhận trách nhiệm thực hiện sứ mạng cứu thế kỳ ba; và Pháp Chánh Truyền Cửu Trùng Đài Nam phái được Thầy ân ban – nền tảng của luật pháp đạo được hình thành. Ba sự kiện nói lên hình ảnh của con số 3 và đánh dấu sự chuyển luân với Pháp sanh hóa là Pháp Chánh Truyền chánh thức khởi đầu công cuộc hoằng khai Đại Đạo.
Diễn trình Khai Nguyên này đã thể hiện Lý Đạo: 1 sanh 2, 2 sanh 3 và 3 chuyển hóa vào trong đời sống sanh chúng.
Trong tiến trình 3 tháng này có giai đoạn Địa Lôi Phục (tháng 11 Bính Dần - tháng Tý) thể hiện ơn cứu độ Kỳ Ba như Nhứt Dương Sơ Động đưa đường dẫn lối cho nhân loài vượt qua thời kỳ Hạ Ngươn Mạt Kiếp để chuyển vào thời Thánh Đức Thượng Ngươn.(Rằm tháng giêng Đinh Mão)
Vào ngày rằm tháng 10 Mậu Tuất 1958, tại Trung Hưng Bửu Tòa Đà Nẳng, Đức Trần Đạo Quang giáng đàn có nói:
“Cũng ngày nầy trên 32 năm về trước trong một góc trời Nam đã xé tan màn u ám bởi một nguồn điển lực từ nơi Trời đến, chói lọi mười phương. Tiếng nói Quyền Pháp bởi cơ hội đã vang động khắp chín từng mây, nhơn vật tỉnh giấc mơ màng, hồn phách được hồi sanh. Nếu không bởi ngày nầy thì cõi Ta Bà cũng mãi triền miên trong ảo mộng.
Nhơn loại bởi ngày này mà phục sinh. Ngày này là ngày nhứt Dương sơ động làm cho khí lạnh hạ dần, ấm áp đã đến, sống động trong muôn loài để khí lực sinh sôi hoạt động.”
2. Cho đến hôm nay song song tồn tại nhiều tên gọi cho ngày kỷ niệm rằm tháng 10 này. Có nơi dùng từ KHAI ĐẠO, có nơi dùng tên HOẰNG KHAI ĐẠI ĐẠO và nhiều nơi chấp nhận danh từ KHAI MINH ĐẠI ĐẠO. Sự dị biệt về tên gọi này cũng không có gì là quan trọng miễn sao các thế hệ tín hữu Cao Đài có hiểu được ý nghĩa và giá trị của sự kiện Đức Chí Tôn đến Khai Minh Đại Đạo cho con người và những sự kiện ghi dấu truyền thống hào hùng của chư vị tiền bối từ chức sắc đến tín đồ đã vượt qua bao thử thách trong những ngày đầu gian nan ấy.
“Đành rằng người tiếp nối đi sau, dĩ nhiên bổn phận là nhắc nhở tôn thờ. Điều quan trọng để nhớ ơn và thể hiện tinh thần, người tiếp nối phải làm thế nào để người ra đi không hờn tủi vì chưa ai biết đến cái kỳ vọng để đạt đến tiêu đề thâm diệu của tâm hồn mình qua những việc đã làm lúc hiện tiền. Đó mới chính là bổn phận của những ai đi sau.
Nhắc lại một lần nữa ở đây, hiểu hết toàn diện các sự kiện đã trải qua, tôn thờ sự kiện ấy, truyền bá và tiếp nối, mới là ý nghĩa của mỗi khi làm lễ kỷ niệm nào. Và đừng nghĩ là dịp lễ bái, dịp trưng bày của một phạm vi nào mà lu mờ chánh pháp của Đại Đạo.”
Vì thế, quan trọng hơn hết là những tín hữu Cao Đài chúng ta có thực hiện được phần nào sứ mạng phải làm “tỏa sáng ánh linh quang” của Thượng Đế đến với nhân loài thể hiện ý nghĩa của tinh thần Khai Minh Đại Đạo hay không.